Từ một lần đi... “trinh sát”
Gặp bà Lò Thị Tóm tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội) chúng tôi cứ trêu bà là người... “trinh sát” địa bàn để rồi cũng là người về lại Mộc Châu, Sơn La cùng với chính quyền huyện vận động bà con về Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Làng) sinh sống. Bà Lò Thị Tóm là một trong số những NNƯT của làng. Sáu năm nay, bà gắn bó với nơi này và được cư dân ở đây tôn trọng, quý mến.
Ngồi với tôi dưới gầm căn nhà sàn nằm nép dưới bóng những hàng hoa ban, đặc trưng cho nhà người Thái, kể về cái lần được cán bộ huyện đến vận động xuống Làng để hiện thực hóa ý tưởng giới thiệu những nét đặc sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc Việt Nam mà bà Tóm cứ thi thoảng lấy tay lau mắt. Ngày ấy cũng chưa xa lắm, quãng đâu năm 2015 - 2016 thôi, bà nghe kể về Làng nên cũng muốn xem xem hình hài “nó” ra làm sao. Vậy nên khi người nhà nghe cuộc điện thoại của bà, thấy bảo rằng “mẹ đã đến Kỳ Sơn (Hòa Bình) nhưng không biết đường đi tiếp” mới tá hỏa ra rằng, bà tự mình đi xuống Làng, thị sát xem cái nơi mình cùng với đồng bào dự kiến lấy nó làm chốn đi về ấy trông ra sao. Đi lại đã quen chân, bà mới về vận động bà con mình về sinh sống trong bản dân tộc Thái tại Làng.
Từ quãng thời gian ban đầu ấy, hiện có tám người cùng nhau sinh sống trong khuôn viên bản Thái. Ông Hoàng Văn Phong vốn người bản A má 2 (Lóng Sập, Mộc Châu) cũng là người cùng với bà Tóm về đây từ thời gian đầu tiên. Bản A Má 2 nơi trước đây ông sinh sống nằm nép vào chân dãy núi Pha Luông bốn mùa mây phủ. Sau này ông quen bà Tóm mới chuyển ra sống ở xã Mường Sang rồi cùng nhau về làm “công dân” của Làng. “Từ đây về nhà mất chừng bốn giờ xe chạy. Con cháu cũng thường xuyên xuống thăm nên đi về cũng không vất vả gì”. Nhìn chiếc xe con bốn chỗ nằm ngay ngắn dưới gầm sàn, cũng dễ hiểu rằng đối với tám bà con bản Thái ở Mường Sang, Chiềng Hắc, Mộc Châu, việc từ quê xuống Thủ đô cũng không lấy gì làm nặng nhọc.
“Dính” vào dịch Covid-19 cho tới giờ đã là bốn lần Hà Nội giãn cách, Sơn La cũng đã vài lần “khóa cửa” để chống dịch. Ảnh hưởng lớn nhất với bà con bản Thái tại Làng là nỗi buồn bởi sự vắng vẻ bởi mất đi một lượng lớn khách hàng, những người sẽ tiêu thụ nông sản, sử dụng dịch vụ ăn uống, trải nghiệm ở bản như thời gian trước khi xảy dịch. (Những dịp lễ, Tết, mỗi ngày bản Thái cũng đón vài trăm lượt khách thăm. Vui mà cũng có thêm tiền để tăng thu nhập).
Làm du lịch để góp phần giữ gìn văn hóa
Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam được quy hoạch thành từng vùng dân tộc sinh sống theo khu vực. Bản Thái ở cạnh bản Mường. Rồi khu nhà người Tày, Nùng, H’Mông, Dao, Hoa... cứ nối vào nhau thành một cụm của đồng bào vùng núi phía bắc. Dịch vào phía giữa Làng là những nếp nhà của bà con các dân tộc sinh sống tại Tây Nguyên. Phía trong là các khu nhà của đồng bào Khmer, Chu Ru... nằm xen vào những hàng cây thốt nốt đặc trưng tại nhiều địa bàn Nam Bộ. Tất cả nối nhau thành một vòng tròn liên kết bằng những con đường nội bộ.
Theo lời giới thiệu của cán bộ công tác tại Làng, nghệ nhân Y Sinh đã nhiều lần nhận được lời mời đích danh đi dự liên hoan văn hóa ở nước ngoài. Bà Y Sinh cũng tâm sự thế. Nhưng cũng không hiểu sao, dù có nhiều lời mời đích danh, cho tới thời điểm hiện tại, bà vẫn chưa một lần ra khỏi lãnh thổ Việt Nam chứ đừng nói chuyện giao lưu với bạn bè quốc tế ở nước ngoài. Với những kinh nghiệm và tích lũy về văn hóa đồng bào Tây Nguyên, bà cùng với bảy người con Xê Đăng (đám trẻ ở bản gọi bà là mẹ) ra Hà Nội với mong muốn đem văn hóa của đồng bào mình giới thiệu cho bạn bè ở làng và những người bạn phương xa không có dịp trực tiếp tới Tây Nguyên trải nghiệm.
A Lực, người ở xã Tân Cảnh, huyện Đăk Tô (Kon Tum) mới gia nhập làng theo bà Y Sinh hồi đầu tháng 7. Lực da nâu mắt sáng đặc trưng. Ngồi nói chuyện với nhau vẫn còn ngượng nghịu. Lực sinh ra trong gia đình có bảy anh em, bố mẹ làm nông. Từ nhà cậu đi ra trung tâm xã mất 7 km mà cũng chẳng có mấy khi ra. Cùng với mấy người đồng lứa, chuyến đi xa nhất của cậu cũng là chuyến đi đầu tiên ra với Làng. Ra tới nơi gặp dịch Covid-19, cả Thủ đô giãn cách xã hội, chả có cơ hội giao tiếp với ai.
“Năm 2018, bắt đầu về làng, đi cùng với cả chục đồng bào. Mỗi hợp đồng Ban quản lý Làng ký với bà con để sinh hoạt tại Làng có ba tháng nên cứ sau ba tháng phải thay người khác để duy trì”. Bà Y Sinh là người bám trụ lại làng Xê Đăng lâu nhất, cũng là người vừa dạy dỗ, duy trì hoạt động văn hóa cho con cháu mỗi lần tham gia hoạt động tại Làng. “Ra đây mùa đông thì rét quá, mùa hè thì nóng nực. Còn lại điều kiện ăn ở thì không phải lo lắng lắm vì ban quản lý hỗ trợ rồi”. Bây giờ người già ngại đi, đám trẻ con thì không có nhiều kinh nghiệm, thậm chí còn không hiểu hết về văn hóa của dân tộc mình. Bà đưa đám trẻ ra, vừa để sinh hoạt cộng đồng, vừa tranh thủ bảo ban nhằm góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc.
Các “con” của bà Y Sinh lần này đều đến từ huyện Đăk Tô. A Chưng ở làng Đăk Man Hay, xã Đăk Krơ Nga đã có một cái tết đầu tiên tại làng. Y Mai, cô bé học hết lớp 10 trường dòng ở tại làng Đăk Jé là người đi cùng với A Chưng. Lấp lánh sau khẩu trang che gần kín khuôn mặt là đôi mắt to và sáng nói về A Chưng “nó hơn nhiều tuổi, chưa đi đâu xa. Về đây lại do dịch Covid nên cũng chẳng đi đâu được”. Với một cộng đồng chừng 200 nghìn người (số liệu năm 2009 về tổng điều tra dân số và nhà ở thì người Xơ Đăng có 169.501 người tập trung chủ yếu ở Kon Tum và một số huyện miền núi Quảng Nam, Quảng Ngãi). Việc có thể duy trì và truyền bá văn hóa của dân tộc mình ở nơi cách xa quê cả nghìn cây số vừa là cơ hội, cũng là thách thức.
Trong khuôn viên làng, đi từ khu vực người Xơ Đăng tới chỗ ở của đồng bào người Ba Na chỉ mất vài ba phút. Đinh P’linh, ngồi trong căn nhà gỗ nhìn ra sân rộng: “Hai năm nay dịch dã nên chẳng đi đâu mà cũng không có khách”. Đinh P’linh quê ở xã Tơ Tung, K’bang, Gia Lai, là cháu nội của Anh hùng Núp. “Dịch bệnh khắp nơi nên làng không có ai lui tới, thỉnh thoảng thấy có cán bộ tranh thủ ghé vào thăm hỏi nên cũng đỡ buồn. Đinh P’linh đã có con, có cháu, “bây giờ dịch bệnh, có việc cũng chẳng về quê được”.
Ở ngoài sân, phía dưới chân sàn nhà rông rộng, Đinh Ý con trai của cặp vợ chồng nhà Đinh Ting và Đinh Hrỡ đang lần mò chơi một mình trong bóng nắng. Hàng cây kơ nia được trồng thành dãy dài và lối vào được chăm chút chu đáo đã khiến cho khu nhà của người Ba Na trở thành khu nhà có khuôn viên rất đẹp và sinh động.
Hiện, trong Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam có 13 cụm bản đang có bà con đồng bào các dân tộc sinh sống. Mỗi cụm trung bình có 4 - 8 người sinh hoạt. Họ về ở trong các căn nhà đặc trưng của dân tộc mình đã được phục dựng theo những căn nhà ở quê hương họ. Chỉ khác nhau ở chỗ là những căn nhà ở Làng vững chãi, chắc chắn và đẹp hơn nơi họ ra đi. Mỗi nhóm đồng bào ở đây được kỳ vọng như những đại sứ văn hóa đại diện cho nền văn hóa của dân tộc mình.
(Còn nữa)