Ấy thế nhưng, tiến độ xử lý nợ vẫn chưa được như kỳ vọng bởi cả hai bên từ phía tổ chức tín dụng (TCTD) và phía doanh nghiệp đều chưa tìm được tiếng nói chung, bắt đầu từ thiếu vắng yếu tố cốt lõi - sự bình đẳng về lợi ích.
Từ trước đến nay, việc xử lý nợ xấu thông qua việc chuyển thành vốn góp gần như chỉ được thực hiện thông qua một bên thứ ba là Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC), một công ty 100% vốn nhà nước, trực thuộc Bộ Tài chính. Còn theo quy định tại khoản 2, mục 3, Nghị định số 60/2016/NĐ-CP thì doanh nghiệp muốn chuyển nợ thành vốn góp phải được cuộc họp đại hội đồng cổ đông thông qua. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, mùa họp đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2016 đã gần kết thúc theo quy định của Bộ Tài chính nhưng gần như chưa có bất kỳ thông tin về một thương vụ nào mà giữa TCTD và doanh nghiệp đi đến hồi kết cuối cùng.
Theo quy định tại điều 18, Thông tư số 36/2014/TT-NHNN thì các TCTD sẽ phải vượt qua một loạt thủ tục pháp lý phức tạp trong xử lý nợ. Đã vậy tỷ lệ sở hữu tối đa chỉ ở mức 11% không thể chi phối và điều hành doanh nghiệp, do đó, các TCTD khó lòng chủ động xử lý nợ xấu thông qua các khoản góp vốn tại doanh nghiệp. Hơn nữa, các TCTD không mặn mà với việc tham gia góp vốn vào doanh nghiệp do thời gian thu hồi vốn sẽ rất dài ngoại trừ các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản… Để giải quyết nút thắt này cần nhiều hơn vai trò điều tiết của Nhà nước. Mô hình có lẽ phù hợp nhất cho cả doanh nghiệp và các TCTD sẽ là nợ xấu được bán cho DATC, hay Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC), thậm chí là Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC). Sau đó, các đơn vị này sẽ chuyển các khoản nợ đã mua từ các TCTD thành vốn góp và tham gia vào quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp.
Thế nhưng, điều đáng nói, cho đến nay, cả ba đơn vị này đều chưa thể phát huy được vai trò đúng như tên gọi của mình. Nguyên nhân chính xuất phát từ nguyên tắc được coi là “bất thành văn” cho lãnh đạo của các công ty đó là phải bảo toàn được nguồn vốn của Nhà nước. Với nguyên tắc này thì có lẽ hầu hết lãnh đạo của ba đơn vị trên sẽ chỉ tham gia vào các doanh nghiệp thực sự có tiềm năng nếu không muốn bị xử lý hành vi làm thất thoát vốn của Nhà nước. Do vậy, quá trình xử lý nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam có thể sẽ còn kéo dài thêm ba năm, thậm chí là năm, mười năm nữa chứ chưa thể nhanh như kỳ vọng của cả xã hội và một khối lượng rất lớn nguồn lực của xã hội sẽ tiếp tục chỉ là những tài sản không có khả năng sinh lời. Chuyển nợ xấu thành vốn góp, vì thế, nghe rất hấp dẫn nhưng vẫn cứ tắc trong thực thi!