Chắt chiu tinh hoa
Nằm ven sông Cà Lồ (Bắc Ninh), những cây tre làng Thu Thủy ngâm sâu dưới lòng sông hàng tháng trời là nguyên liệu sản xuất đồ nội, ngoại thất và dựng nhà bằng tre. Tương truyền, từ thời Vua Lê Cảnh Hưng (1740-1786), làng Thu Hồng xưa và nay thôn Thu Thủy, đã ra đời nghề truyền thống bén duyên với tre này. Ông Nguyễn Thanh Hải (65 tuổi), một trong số nghệ nhân hiếm hoi còn lại cho biết: “Trước đây, Hiệp hội làng nghề Việt Nam từng quan tâm đầu tư, tập trung những người giỏi phát triển làng nghề. Nhưng theo thời gian, do điều kiện sức khỏe các nghệ nhân, nhân lực trẻ thiếu thốn và không liên hệ được nhiều đơn hàng, nên những người thợ già lại phân tán về gia đình làm tự túc. Hiện, nơi nào người ta có nhu cầu về đồ tre và liên hệ với chúng tôi, thì những người thợ già lại lên đường”.
Tiếng lành về tay nghề của người thợ Thu Thủy vẫn lan khắp ba miền. Từ Khu lưu niệm cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ ở Phù Khê (Bắc Ninh), phủ Thành Chương, nhà vườn ở Tam Đảo cho tới khu nghỉ mát Đà Lạt… đều có dấu ấn sản phẩm tre làng Thu Thủy. “Chủ yếu khách hàng vẫn là giới thiệu truyền tai nhau. Nói không ngoa, nhưng các sản phẩm của làng tôi, từ bàn, ghế, giường, tủ cho tới dựng nhà tre cho nhà hàng đều theo lối cổ truyền. Đặc biệt khi làm nhà tre, có thể nhiều nơi khác cũng dựng được. Nhưng chúng tôi tự hào làng Thu Thủy là nơi duy nhất trong cả nước làm được nhà theo chuẩn mực cổ và chắc chắn nhất”, ông Hải cho biết. Để làm được một sản phẩm đồ gia dụng bằng tre như trường kỷ, ghế hay tủ chỉ mất ba tới bốn ngày, nhưng nếu dựng nhà tre thì cần sự cẩn thận, tỉ mỉ hơn và cần khoảng gần tháng gia công từng phần rồi mới lắp ghép.
Bí quyết của việc dựng nhà chắc chắn của làng Thu Thủy trước tiên nhờ nguyên liệu tre xử lý theo cách cũ. Họ không dùng hóa chất để ngâm hay luộc tre, mà phụ thuộc hoàn toàn vào việc ngâm chìm tre ít nhất hơn một năm rưỡi cho tới ba năm mới sử dụng được. Nếu không chìm hẳn, thân tre sẽ bị “gảy” hoặc “ải”, không bảo đảm độ bền và chống chịu mối mọt, thời tiết. Tre sử dụng làm nhà trước đây chủ yếu tận dụng ở tại địa phương, nhưng hiện tại phải nhập thêm từ các vùng miền núi như Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Kạn hoặc Thanh Hóa. Ưu điểm của tre rừng khu vực khác là to, đẹp bên ngoài nhưng lại không chắc chắn bằng cây tre quê. Tre quê nhỏ hơn nhưng lại đặc hơn nên chịu lực tốt.
Yếu tố quan trọng nữa nằm ở tay nghề của mỗi người thợ, sở hữu những “ngón nghề” kết hợp từ kiến thức của ông bà truyền dạy với năng khiếu tự thân. Họ đục tre bằng tay vừa bén, vừa chắc sao cho thân tre không bị vỡ. Các lỗ đục bén chắc đến mức khi cắm các thanh xà vào nhau mà không vỡ mối đục. “Các cụ ngày xưa không chỉ là những người dạy chúng tôi từng nhát đục đơn giản cho tới kỹ thuật xử lý tre phức tạp, cao hơn là những quy chuẩn dựng nhà xưa như kèo tư ốp tám, ngạch ba đố lấm… Những khái niệm đó liên quan tới số cột kèo dựng nhà mà tổ tiên, ông bà chúng tôi dạy lại. Chúng khá là khó, bởi không ít thợ vùng khác phải lắc đầu, khó hiểu khi nhìn cấu trúc nhà tre của làng Thu Thủy”, ông Phan Văn Đề (57 tuổi), nghệ nhân chính của cơ sở đồ tre Thanh Hải cho hay.
Mai một hồn cốt
Những giá trị ấy đang mất dần theo lứa thợ cuối cùng, những người có tuổi đời thấp nhất cũng gần 60 tuổi. Ông Đề ngậm ngùi: “Phải nói thực, nếu ở nơi không có công ăn việc làm thì việc đào tạo cho giới trẻ lại còn dễ hơn. Nhưng hiện tại, có quá nhiều công việc khác hấp dẫn và ổn định hơn là làm nghề thủ công từ tre. Trung bình mỗi ngày công, một người thợ chỉ được khoảng 200-300 nghìn đồng. Nếu nhiều việc, mỗi tháng người thợ có thể thu về hơn 10 triệu đồng, nhưng cũng có khi cả tháng không có việc làm và thất thu. Trước đây, từng có lúc hơn hai phần ba số hộ làng Thu Thủy làm nghề tre, nhưng nay chỉ còn chưa đến chục hộ còn bám trụ”.
Hiện nay, số gia đình tái chế rác thải ở làng Thu Thủy còn nhiều gấp mấy lần hộ làm nghề truyền thống. Số những người trẻ học làm nghề cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay vì không có lớp dạy nghề chính thống nào, chủ yếu học bằng kinh nghiệm và truyền miệng. Tuy nhiên, có lẽ nhìn từ bài học của các nơi khác, nguyên nhân chính khiến làng nghề Thu Thủy mai một bởi lợi ích kinh tế thấp và thiếu ổn định khiến nghề cổ truyền không thu hút thế hệ trẻ. Các nghệ nhân cũng có quảng cáo các sản phẩm trên Facebook nhưng hiệu quả không cao. Ngoài ra, còn tham gia các hội chợ, triển lãm quảng bá làng nghề. Trước đây, từng có một số đơn vị nước ngoài của Italia đến đặt hàng. Nhưng với tuổi tác, sức khỏe và sự eo hẹp kinh tế của các nghệ nhân già, việc quảng cáo rộng rãi, tìm kiếm đối tác thu mua, hoặc xây dựng mô hình làng nghề kết hợp du lịch giống như Bát Tràng, Đông Hồ hay Ngũ Xã… còn rất xa vời. Có lẽ chỉ còn biết chờ định hướng của Nhà nước…
Đợt dịch vừa qua, nhiều nhà hàng đóng cửa và không có mấy nơi mở mới nên nhu cầu về đồ gia dụng hoặc dựng nhà hàng bằng tre giảm mạnh.