Trước giờ sinh tử

Năm 1971, trai tráng miền bắc lên đường vào nam đánh giặc, trong đó có tôi và Lang cùng thôn.
Minh họa: ĐOÀN ĐỨC HÙNG
Minh họa: ĐOÀN ĐỨC HÙNG

Lang là thứ 5 trong một gia đình có sáu anh em trai, trứng gà, trứng vịt, chẳng ai được học hành đến nơi, đến chốn. Lang học đến lớp 7 cũng phải nghỉ. Nó theo bố đánh xe ngựa chở hàng thuê cho tiểu thương trên phố huyện. Tính ngỗ ngược, cộng thêm bệnh “nghề nghiệp” nên Lang ngang tàng, nghịch ngợm. Tôi thì chậm chạp và nhút nhát, tận lúc vào bộ đội, vẫn được bố mẹ nuông chiều.

Chúng tôi về chung tiểu đội trinh sát, đóng quân ở một làng ven sông Trà Lý để huấn luyện sáu tháng trước khi vào nam. Những ngày ra thao trường, Lang rèn luyện rất tích cực. Nó to như con voi, không lúc nào biết mệt. Còn tôi chỉ tập đến giữa buổi đã mệt nhoài, chỉ nhăm nhăm tìm bóng râm để nghỉ. Những lúc thế, Lang giễu cợt tôi trước toàn tiểu đội. Nó bảo tôi là công tử bột, quen ăn lạ tập. Ức lắm, nhưng tôi không làm sao được. Những ngày được nghỉ, không phải ra thao trường, thấy các thôn nữ nơi đơn vị đóng quân cứ xúm xít, nghe tôi chơi đàn ghi ta và hát, Lang toàn phá đám. Nó bảo mấy cô gái:

- Bảnh bao thế thôi nhưng ra thao trường là bị A trưởng (tiểu đội trưởng) quạt cho lên bờ xuống ruộng đấy các em ạ. Phải như anh đây này! Một mẫu ruộng mà chỉ buổi sáng là anh cày bay!

Chỉ vào một cô gái xinh nhất trong đám, cũng là cô có thiện cảm với tôi nhất, Lang bặm trợn:

- Chờ anh nhé! Đánh giặc xong anh sẽ về đây ngay để xin bố mẹ cho em làm vợ anh nhé!

Nhìn tôi vẻ ngại ngùng, cô gái đỏ bừng mặt:

- Anh cứ đùa. Em… em có người yêu rồi. Các bạn em đây này. Ối đứa xinh đẹp mà chưa có gì đâu!

Những lúc như thế tôi chỉ muốn vung tay, đóng dấu vào cái mồm đầy răng vẩu của Lang một phát. Nhận ra Lang cũng chỉ đùa cợt, tếu táo cho vui nên tôi lại kìm nén. Nhưng rồi cái gì cũng đến ngưỡng, ấy là lần Lang tố cáo tôi với A trưởng về việc tôi định trốn về nhà. Số là thế này: Hôm đó là thứ bảy, tân binh được nghỉ tập để sinh hoạt văn hóa văn nghệ. Thấy những bài hát cần tập đã quen thuộc, nên tôi nháy nhủ một thằng bạn điểm danh giúp để về nhà buổi sáng, chiều sẽ có mặt tại đơn vị. Ai ngờ cái thằng “giời đánh” kia phát hiện ra. Thế là tôi bị phạt lau nhà, rửa chuồng lợn thay anh nuôi ba ngày.

Tôi giận Lang lắm, sao thằng này tiểu nhân đến thế. Ở ngoài bắc còn thế này, sau này vào nam có khéo nó mong mình gặp nạn sớm! Chưa hết, trước ngày vào nam, chúng tôi phải hành quân dã ngoại để rèn luyện sức bền. Chặng đường dài gần 200 km, đi bộ xuyên rừng, men theo lưng chừng núi Yên Tử. Ba-lô hành quân, ngoài khẩu AK, mỗi chiến sĩ phải để 20 viên gạch đặc, nặng tới 40 kg có lẻ. Được chừng 50 km thì tôi đã không thể lê nổi đôi chân. Lợi dụng lúc sẩm tối, được nghỉ giải lao, tôi lén vứt mấy viên gạch. Đen đủi thế nào, lúc tôi ném gạch vào vệ đường cũng là lúc thằng Lang đang mò vào chỗ đó để tiểu tiện. Một hòn gạch sượt qua chân nó.

- Thằng nào ném gạch vào chân tao? - Lang gầm lên - A trưởng ơi! Có người phi tang gạch!

A trưởng soi đèn pin loang loáng, phát hiện ra tôi... Sau chuyện đó, sự thù hận trong tôi với Lang ngỡ sẽ không có cơ hội xóa bỏ.

*

Nhưng chưa kịp nghĩ cách trả đũa Lang thì đơn vị tôi được lệnh vào nam bổ sung cho Mặt trận B5. Vượt qua những địa danh khốc liệt do bom Mỹ đánh phá, rồi men theo con đường đất đỏ 15, lội suối, băng rừng thêm gần 20 ngày đêm nữa, chúng tôi vào tới điểm tập kết, rồi đóng chốt trên một điểm cao thuộc đông Trường Sơn. Cũng từ thời gian này, tính nết thằng Lang thay đổi. Từ chỗ hay tếu táo, nó trầm tính hẳn. Ở bộ phận trinh sát, ngày nào chúng tôi cũng phải đi trận địa. Thấy tôi có vẻ mệt, Lang đều giằng cái ba-lô đang sắp tuột khỏi vai tôi để khoác lên vai nó, rồi an ủi:

- Mệt lắm à? Mẹ kiếp, đến như sức tao mà cũng thấy oải. Huống gì mày! Tao đã bảo rồi mà. Phải chịu khó mà tập luyện. Các đàn anh đã đúc kết rồi, thao trường có đổ mồ hôi thì chiến trường mới bớt đổ máu chứ…

Nói rồi Lang bấm tôi một cái vào vai đau điếng, phô cả hàm răng vẩu ra cười rõ vô tư, nó lại thì thầm đủ để tôi nghe:

- Mày thế nào chứ tao cũng nhớ nhà ra phết… Từ đận anh cả tao hy sinh ở Quảng Ngãi, bố mẹ tao xuống dốc nhanh lắm. Nhưng thôi, ối nhà hoàn cảnh như thế chứ riêng gì mình. Đã vào đến đây rồi là chỉ có đánh.

Thấy thằng Lang tỏ ra chân tình như vậy, tôi rất mừng. Nói cho công bằng, nó đâu phải là thằng xấu tính. Ăn nói bỗ bã thế thôi chứ Lang là đứa rất hay động lòng trắc ẩn. Ở chiến trường B5 ngày ấy, lương thực, thực phẩm của ngoài bắc cung cấp cho chiến trường không hề thiếu. Ngặt nỗi mỗi lần ra cứ để lấy là một lần giáp mặt với cái chết. Không kể bọn thám báo rình rập ở các vị trí tập kết quân lương để phá hoại, pháo của địch đêm ngày trút xuống những nơi chúng nghi có quân giải phóng. Thành ra chúng tôi vẫn phải bữa no, bữa đói. Những lúc như thế, dù đang đói thắt ruột, thằng Lang cũng kiếm cớ đang mọc răng số 8 để ý tứ nhường phần cơm cháy cho đồng đội. Sau đấy nó lại lặng lẽ ra phía sau hầm trú quân để vặt mấy quả ổi rừng còn xanh rồi nhai ngấu nghiến.

Trong lĩnh vực chiến đấu thì Lang rất thông minh. Mới chân ướt, chân ráo vào chiến trường, nhưng Lang đã xông xáo như một chiến binh từng trải. Luồn lách giữa những cánh rừng loang lổ cháy, dưới chân chằng chịt dây rừng và phủ dày lá mục, nó vẫn nhận biết được những chiếc mìn lá, cây nhiệt đới… do địch rải xuống.

Chiều ngày 24/8, đơn vị tôi nhận được mật lệnh gửi xuống: Yêu cầu cử gấp hai trinh sát lên cao điểm 105 của địch để nắm tình hình. Đây là cao điểm có vị trí chiến lược rất quan trọng nên địch bố phòng rất kiên cố, cẩn mật. Sau nửa ngày cân nhắc, tính đến mọi yếu tố, C trưởng (đại đội trưởng) xuống tiểu đội tôi bàn bạc với A trưởng, rồi ủy quyền cho A trưởng phân công tôi và anh Tiến (quê Hải Dương) làm nhiệm vụ. Cả tiểu đội lặng phắc khi nghe A trưởng giao nhiệm vụ. Mọi người đều hiểu rất rõ rằng, nhiệm vụ lần này cơ hội trở về rất ít. Nhưng danh dự của người lính khiến tôi đứng phắt dậy, vui vẻ nhận nhiệm vụ. Song ngay lúc đó, một bàn tay kéo tôi ngồi xuống. Bàn tay chắc nịch ấy là của thằng Lang. Nó nói với A trưởng:

- Tôi đề nghị thủ trưởng xem lại. Đồng chí Tiến thì được rồi. Còn nếu thủ trưởng cử đồng chí Đoàn thì cầm chắc là thất bại. Đồng chí Đoàn vừa yếu, vừa chưa có kinh nghiệm chiến đấu. Làm sao mà lọt được vào cái chốt tử thần đó? Khéo không lại làm cho đồng chí Tiến bị vạ lây. Tôi xung phong!

Thấy Lang xúc phạm mình như vậy, tôi giận run người. Đi trinh sát, đâu cứ to xác là được. To vật vã như nó chỉ tổ dễ lộ mục tiêu mà thôi. Tôi tuy yếu thật ,nhưng linh hoạt cũng đâu có kém nó. Mà cũng như tôi, kinh nghiệm trận mạc của nó đã có bao nhiêu? Vậy mà nó dám nhạo báng tôi. Nghĩ thế, tôi vùng dậy định thoi vào mồm thằng Lang một quả cho bõ tức. A trưởng thấy vậy liền ra sức can ngăn. Phân vân một lúc, anh lên tiếng:

- Lúc đầu tôi cũng định phân công đồng chí Lang. Song đồng chí Lang vừa mới làm nhiệm vụ hôm qua. Mới lại tôi cũng có ý định rèn luyện các đồng chí. Ai cũng được thử thách, được giao những nhiệm vụ khó khăn. Có thế chúng ta mới trưởng thành, mới đánh thắng được kẻ thù…

Chưa đợi A trưởng nói xong thì thằng Lang đã nhào về phía anh. Kéo A trưởng ra xa nơi chúng tôi ngồi, nó thì thầm vào tai anh những điều gì không rõ. Lúc sau quay trở lại, A trưởng quyết định:

- Tôi đã cân nhắc lại. Nhiệm vụ lần này tôi giao đồng chí Trần Hữu Lang và đồng chí Nguyễn Hữu Tiến. Còn đồng chí Đoàn thì sẽ nhận nhiệm vụ khác, cũng không kém phần quan trọng…

*

Thế rồi đêm đó, Lang không bao giờ trở lại. Theo lời anh Tiến còn sống trở về đơn vị kể, sau khi lọt được vào cao điểm tử thần đó, Lang vô tình giẫm phải một vỏ hộp, làm phát ra tiếng kêu, nên bị địch phát hiện. Trong cuộc đấu súng không cân sức, Lang đã anh dũng hy sinh. Sau này khi quân ta xóa sổ được cái cao điểm ấy, đơn vị cũng không tìm thấy thi thể Lang nằm ở nơi nào…

Lúc nhận được tin Lang đã hy sinh, A trưởng của tôi bưng mặt khóc như một đứa trẻ. Vừa nức nở, anh vừa đau đớn kể:

- Đoàn ơi! Mày có biết vì sao đêm ấy thằng Lang nó không muốn mày đi làm nhiệm vụ đó không? Nó bảo với tao rằng, bố mẹ mày quanh năm đau yếu, lại chỉ có mình mày là con trai duy nhất. Nhà nó thì đông người. Ngoài nó ra thì ở hậu phương vẫn còn hai thằng em nữa…

*

Ngày 30/4/1975, non nước liền một dải. Nhưng A trưởng và rất nhiều đồng đội của tôi đã mãi mãi không về. Tôi, với thương tật 2/4 được trở về thăm nhà sau một thời gian an dưỡng. Nhớ lời căn dặn của A trưởng lúc anh còn sống, tôi sớm có mặt ở nhà Lang. Đứng trước di ảnh của hai cụ, tôi thắp ba nén hương, thầm thì khấn vái:

- Cha mẹ ơi! Cha mẹ đã sinh ra anh Lang. Con thì được anh Lang cho một mạng sống. Bây giờ cả cha mẹ và anh Lang đã về cõi vĩnh hằng. Cái ơn trời bể đó con làm sao để báo đáp… Con chỉ dám hứa trước hương linh cha mẹ và anh Lang rằng, cả cuộc đời này con sẽ sống thật tử tế, để mãi xứng đáng là người lính…