Tạo áp lực cải cách để doanh nghiệp lớn lên

Nâng mục tiêu và siết trách nhiệm cải cách, Nghị quyết 02 năm 2026 được kỳ vọng tạo thêm động lực cho doanh nghiệp gia nhập thị trường, đồng thời giúp doanh nghiệp đang hoạt động ổn định và lớn lên bền vững.

Nghị quyết 02 được ban hành hướng tới mục tiêu hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Nghị quyết 02 được ban hành hướng tới mục tiêu hình thành các động lực tăng trưởng mới.

Theo thông lệ hằng năm, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 02 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2026.

Nỗ lực cải cách bền bỉ

Mục tiêu tổng quát của Nghị quyết là tiếp tục cải thiện mạnh mẽ chất lượng môi trường đầu tư, kinh doanh phù hợp với bối cảnh trong nước và xu thế, nâng cao vị thế của nước ta; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh cạnh tranh lành mạnh, bảo đảm công khai, minh bạch, ổn định, giảm chi phí tuân thủ, phù hợp với thông lệ quốc tế tốt, khuyến khích đổi mới, sáng tạo, giải phóng sức sản xuất, huy động mọi nguồn lực và tạo động lực mới cho phát triển.

Theo TS Nguyễn Minh Thảo, Phó trưởng ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh (Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính), Nghị quyết 02 hiện nay và Nghị quyết 19 trước đây là chuỗi nghị quyết thể hiện nỗ lực cải cách bền bỉ, cũng như thông điệp nhất quán của Chính phủ trong việc đồng hành cùng doanh nghiệp và cải thiện môi trường kinh doanh.

Trong năm qua, mặc dù Việt Nam đã xây dựng được hệ thống chính sách và cơ chế tương đối đầy đủ nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, song thực tiễn cho thấy, môi trường kinh doanh vẫn đối mặt với nhiều thách thức mới. Những khó khăn này không chỉ xuất phát từ nội tại nền kinh tế mà còn đến từ các yếu tố bên ngoài, đặc biệt là những thay đổi chính sách khó dự báo từ các quốc gia đối tác. Yêu cầu tiếp tục cải cách từ bên trong trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Trong bối cảnh đó, việc ban hành Nghị quyết 02 được xem là “điểm tựa” quan trọng, giúp củng cố niềm tin cho doanh nghiệp, nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài và tạo động lực để doanh nghiệp ổn định, mở rộng hoạt động trong nước. Nghị quyết tiếp tục nhấn mạnh các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, kế thừa và phát huy những giải pháp đã được triển khai tại nhiều địa phương trong thời gian qua.

Ở một góc nhìn rộng hơn, Nghị quyết 02 năm nay được ban hành trong tổng thể một chương trình cải cách đồng bộ, bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau. Theo đó, cải cách môi trường kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc tạo thuận lợi cho doanh nghiệp gia nhập thị trường hay giảm chi phí tuân thủ, mà hướng tới mục tiêu cao hơn là hình thành các động lực tăng trưởng mới.

231.jpg
Ngành dệt may cần có nhiều thay đổi để đối mặt xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng. Ảnh: HẢI NAM

Đặt mục tiêu tham vọng

Nếu trước đây, Nghị quyết chỉ đặt mục tiêu tốc độ tăng doanh nghiệp gia nhập thị trường ở mức trên 10%, thì giai đoạn tới kỳ vọng được nâng lên rõ rệt, qua đó tạo áp lực và động lực mạnh mẽ cho cải cách, thúc đẩy cải thiện thực chất môi trường kinh doanh. Theo đó, năm 2026, số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường dự kiến tăng khoảng 15-20% so năm 2025, trong khi số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường được kiểm soát ở mức tăng khoảng 10%.

Ở góc nhìn từ cộng đồng doanh nghiệp, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, đây là mục tiêu thiết thực, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 68 - NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, hướng tới mục tiêu đến năm 2030 cả nước có khoảng 2 triệu doanh nghiệp đang hoạt động.

Tuy nhiên, năm 2026 cũng là một năm được dự báo không dễ dàng. Việt Nam là nền kinh tế có độ mở lớn, phụ thuộc nhiều vào xuất nhập khẩu, trong khi bối cảnh quốc tế vẫn tiềm ẩn nhiều biến số khó lường. Xung đột giữa các nước lớn chưa có lời giải rõ ràng; nhiều điểm nóng địa chính trị tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực đến dòng chảy thương mại, du lịch và tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Đáng chú ý, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, trong khi các thể chế thương mại toàn cầu suy yếu, đặt ra thách thức lớn đối với những quốc gia hưởng lợi nhiều từ tự do hóa thương mại như Việt Nam.

Ở trong nước, dù đã có nhiều nỗ lực cải cách, song vẫn còn những khó khăn cần thêm thời gian để tháo gỡ. Tính chuyên nghiệp và tốc độ phản ứng của bộ máy hành chính chưa thể cải thiện trong “một sớm một chiều”; mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng đòi hỏi sự thích ứng và nỗ lực lớn hơn trong quá trình vận hành. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn phải đối mặt với áp lực về thị trường và nguồn lực cho phát triển, đặc biệt là vấn đề vốn, khi nhiều dự báo cho thấy chi phí vay có thể gia tăng.

Nghị quyết 68 đã đưa ra nhiều giải pháp mang tính đột phá như miễn thuế trong 2-3 năm đầu cho doanh nghiệp mới thành lập, bãi bỏ lệ phí môn bài, hỗ trợ phần mềm, đào tạo và nâng cao năng lực quản trị. Nếu các giải pháp này được thực thi đồng bộ và hiệu quả, theo ông Đậu Anh Tuấn, các mục tiêu đặt ra cho năm 2026 hoàn toàn có thể đạt được, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của cộng đồng doanh nghiệp trong giai đoạn tới.

Củng cố niềm tin của doanh nghiệp

Trong bối cảnh đó, để hiện thực hóa các mục tiêu đặt ra, theo ông Đậu Anh Tuấn, các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp cần được gắn chặt với trách nhiệm của chính quyền địa phương. Trong điều kiện phân cấp, phân quyền ngày càng mạnh mẽ, động lực phát triển của mỗi địa phương phụ thuộc trực tiếp vào sự gia tăng cả về số lượng lẫn chất lượng doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn. Việc triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, vừa và siêu nhỏ vì vậy sẽ đóng vai trò quan trọng, vừa thúc đẩy doanh nghiệp thành lập mới, vừa hạn chế tình trạng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

Theo TS Nguyễn Minh Thảo, bên cạnh yêu cầu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng thuận lợi, minh bạch, thì xây dựng môi trường kinh doanh an toàn và ổn định là yếu tố mà cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt kỳ vọng hiện nay. Vì vậy, trong thời gian tới, bên cạnh việc tháo gỡ các rào cản hiện hữu, cần đặc biệt chú trọng bảo đảm tính ổn định của chính sách nhằm tạo niềm tin cho doanh nghiệp đầu tư dài hạn. Đồng thời, cải cách thủ tục hành chính cần được đẩy mạnh theo hướng thực chất hơn, nhất là tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, hai địa bàn tập trung số lượng doanh nghiệp lớn nhất và khối lượng thủ tục hành chính cao nhất. Chỉ cần những cải cách nhỏ nhưng đi vào thực chất tại các đô thị này cũng có thể tạo ra tác động lan tỏa tích cực trên phạm vi cả nước.

Bên cạnh đó, dù nhiều địa phương đã tăng cường đối thoại và phản hồi kiến nghị của doanh nghiệp, song cải cách cần đi đến cùng và giải quyết được tận gốc các vướng mắc. Việc phản hồi không nên dừng lại ở hình thức hay văn bản hành chính, mà cần hướng tới kết quả cụ thể, tháo gỡ được những khó khăn thực tế mà doanh nghiệp đang đối mặt. Do vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh các cuộc đối thoại chuyên đề giữa chính quyền và doanh nghiệp, không chỉ ở cấp địa phương mà cả tại các bộ, ngành theo lĩnh vực quản lý. Đây là kênh quan trọng để kịp thời nhận diện những bất cập phát sinh trong quá trình thực thi cơ chế, chính sách.

Cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, TS Nguyễn Minh Thảo cho rằng, cần xây dựng cơ chế phản ứng nhanh nhằm xử lý kịp thời các mâu thuẫn, chồng chéo hoặc bất cập phát sinh trong thực tiễn, đồng thời tăng cường giám sát và đánh giá độc lập trong quá trình thực thi chính sách. “Một môi trường chính sách an toàn sẽ củng cố niềm tin của doanh nghiệp, tạo điều kiện để họ xây dựng kế hoạch và chiến lược đầu tư dài hạn, qua đó nâng cao tính ổn định trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đây cũng là tiền đề quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng 15-20% số doanh nghiệp gia nhập thị trường”, TS Thảo nhấn mạnh.