Giữ ổn định vĩ mô giữa biến động toàn cầu

Xung đột Trung Đông leo thang đang đẩy chi phí logistics và năng lượng tăng cao, tạo sức ép lên kinh tế toàn cầu. Việt Nam vì thế đứng trước thách thức giữ ổn định vĩ mô và bảo đảm mục tiêu tăng trưởng 2026.

Tỷ giá cần được điều hành mềm dẻo để hạn chế biến động quá mạnh, giảm áp lực chi phí nhập khẩu và tâm lý thị trường. Ảnh: BẮC SƠN
Tỷ giá cần được điều hành mềm dẻo để hạn chế biến động quá mạnh, giảm áp lực chi phí nhập khẩu và tâm lý thị trường. Ảnh: BẮC SƠN

Từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành cuộc không kích quân sự quy mô lớn tấn công nhằm vào Iran, đánh dấu bước leo thang nghiêm trọng trong căng thẳng khu vực Trung Đông. Các bên đều lên tiếng đã chuẩn bị cho một kịch bản chiến tranh kéo dài nhiều ngày.

Lo ngại ảnh hưởng tới mục tiêu tăng trưởng

Theo bà Phạm Ngọc Thủy, Giám đốc Văn phòng Ban Nghiên cứu Phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV), các cuộc không kích quy mô lớn của Mỹ và Israel vào Iran ngày 28/2, đang tạo ra biến động mạnh đối với tuyến vận tải hàng hóa Á - Âu.

Eo biển Hormuz hiện được xem là điểm nóng khi Iran phát đi các cảnh báo an ninh, khiến hoạt động qua lại bị ảnh hưởng đáng kể. Dù chưa có thông tin đóng cửa hoàn toàn, nhiều hãng tàu đã chủ động dừng hoặc điều chỉnh lộ trình do rủi ro cao. Tại khu vực kênh đào Suez và Biển Đỏ, triển vọng phục hồi hoàn toàn tuyến vận tải trong năm 2026 trở nên bất định, một số doanh nghiệp tính đến phương án đi vòng qua mũi Hảo Vọng.

Chi phí logistics tăng vọt theo giá cước container. Theo tiền lệ từ các đợt bất ổn trước, cước container 40 feet có thể nhảy vọt hơn 2-3 lần bình thường, lên hơn 5.000 USD, tương tự như năm 2024-2025. Ngoài ra, các đơn vị bảo hiểm rủi ro chiến tranh đang rà soát và tăng phí nhanh chóng đối với các tàu hoạt động tại khu vực Vùng Vịnh. Giá dầu Brent đang chịu áp lực tăng giá lớn, kéo theo phụ phí nhiên liệu trong vận tải biển và hàng không đều tăng.

Rủi ro về chi phí còn đi kèm rủi ro thời gian vận chuyển. Việc thay đổi hải trình vòng qua Nam Phi thay vì đi qua kênh đào Suez khiến thời gian vận chuyển hàng hóa giữa châu Á và châu Âu bị kéo dài thêm từ 10 đến 14 ngày. Điều này gây áp lực cực lớn lên các chuỗi cung ứng, đặc biệt là ngành linh kiện ô-tô, điện tử và hàng nông sản thực phẩm.

“Đặc biệt, các mặt hàng nông sản (vốn là thế mạnh của Việt Nam như trái cây, thủy sản) sẽ gặp khó khăn do thời gian vận chuyển dài làm ảnh hưởng đến chất lượng và tăng chi phí bảo quản”, bà Thủy cho biết.

TS Nguyễn Quốc Việt (Trường đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, những hệ lụy cuộc khủng hoảng này gây ra đối với kinh tế toàn cầu và Việt Nam có thể tương tự các cuộc xung đột lớn từng xảy ra trước đây. Trong trường hợp chiến sự kéo dài và lan rộng, chi phí đầu vào cho sản xuất sẽ gia tăng.

Bên cạnh đó, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng có thể tái diễn nếu các tuyến logistics quốc tế bị gián đoạn. Điều này không chỉ làm tăng chi phí vận tải mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới tiến độ sản xuất và giao thương. Ngoài ra, nhu cầu tiêu dùng toàn cầu suy giảm trong bối cảnh bất ổn sẽ kéo theo tăng trưởng kinh tế chậm lại. Các nền kinh tế lớn có thể tiếp tục duy trì hoặc quay lại chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm bảo đảm ổn định vĩ mô, qua đó gây sức ép lên tỷ giá và dòng vốn đầu tư quốc tế.

Với một nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam và tăng trưởng vẫn phụ thuộc đáng kể vào xuất khẩu và du lịch quốc tế thì những cú sốc từ bên ngoài sẽ tác động trực tiếp tới triển vọng tăng trưởng. Thực tế cho thấy, sự phục hồi mạnh của du lịch quốc tế thời gian qua là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế. Nếu xung đột kéo dài, vận tải hàng không và dòng khách quốc tế bị gián đoạn, động lực này sẽ suy yếu.

Phát huy hiệu quả kinh nghiệm điều hành

Về giải pháp ứng phó, TS Nguyễn Quốc Việt cho rằng, Việt Nam đã có kinh nghiệm điều hành trong giai đoạn sau xung đột Nga - Ukraine, với nhiều biện pháp phát huy hiệu quả và có thể tiếp tục vận dụng khi xuất hiện các cú sốc mới. Ưu tiên xuyên suốt vẫn là giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Khi giá nguyên liệu, đặc biệt là năng lượng, biến động mạnh, cần linh hoạt sử dụng công cụ tài khóa như miễn, giảm, giãn thuế, phí (nhất là với xăng, dầu và logistics) để giảm chi phí đầu vào, hạn chế áp lực lạm phát và duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh thông suốt.

Trong trường hợp cầu tại các thị trường truyền thống suy yếu, cần chủ động mở rộng thị trường và khai thác các phân khúc ngách, tận dụng cơ hội bù đắp nguồn cung thiếu hụt từ những khu vực bị ảnh hưởng bởi xung đột. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp trong việc cập nhật thông tin, điều chỉnh chiến lược và nâng cao khả năng thích ứng. Trong trường hợp phát sinh biến động lớn về tỷ giá, lạm phát hay dòng vốn, việc phối hợp đồng bộ giữa chính sách tài khóa và tiền tệ sẽ đóng vai trò then chốt nhằm kiểm soát rủi ro và giữ vững niềm tin thị trường.

PGS, TS Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế cho rằng, trong mọi kịch bản, “mỏ neo” của Việt Nam vẫn là ổn định kinh tế vĩ mô. Nếu điều hành tốt, có thể kiểm soát lạm phát kỳ vọng, giữ tỷ giá và lãi suất ở mức hợp lý, đồng thời hỗ trợ đúng nhóm chịu tác động như logistics, năng lượng, doanh nghiệp xuất nhập khẩu thay vì kích cầu dàn trải.

Với chính sách tiền tệ, điều hành cần linh hoạt nhưng thận trọng với lạm phát. Lãi suất nên được giữ ở mặt bằng hợp lý, tránh điều chỉnh đột ngột. Tỷ giá cần được điều hành mềm dẻo để hạn chế biến động quá mạnh, giảm áp lực chi phí nhập khẩu và tâm lý thị trường. Dòng tín dụng nên ưu tiên cho sản xuất, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời kiểm soát rủi ro ở các lĩnh vực đầu cơ.

Ở khía cạnh tài khóa, cần chủ động tạo “bộ đệm” cho nền kinh tế bằng cách đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, nhất là hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng và chuyển đổi số để kích hoạt đầu tư tư nhân và tạo việc làm. Các gói hỗ trợ nên có mục tiêu rõ ràng, tập trung vào nhóm chịu tác động trực tiếp khi chi phí đầu vào tăng cao. Song song đó là giữ kỷ luật ngân sách và cơ cấu lại chi tiêu theo hướng hiệu quả hơn.

Về năng lượng, ông Long nhấn mạnh cần đa dạng hóa nguồn cung, nâng dự trữ và chuẩn bị kịch bản ứng phó khi giá dầu tăng hoặc vận tải gián đoạn. Điều hành giá nên theo cơ chế thị trường nhưng có công cụ giảm sốc phù hợp, bảo đảm minh bạch và tránh gây biến động mạnh.

Còn theo TS Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính - ngân hàng, tại nhiều quốc gia, các ủy ban hoặc hội đồng quản lý khủng hoảng được thành lập nhằm phân tích, dự báo và tham mưu chính sách trong bối cảnh bất ổn. Trong khi đó, Việt Nam hiện chưa có một cơ chế chuyên trách tương tự ở cấp quốc gia. Vì vậy, đây có thể là thời điểm phù hợp để xem xét thành lập một đơn vị như vậy.

Ủy ban quản lý khủng hoảng nên có sự tham gia của đại diện Chính phủ, các bộ, ngành và các chuyên gia kinh tế độc lập, với chức năng tư vấn, xây dựng kịch bản và đề xuất kế hoạch hành động tương ứng. Quan trọng hơn, mỗi kịch bản không chỉ dừng lại ở dự báo tình huống mà cần gắn với các chiến lược và giải pháp cụ thể. Một cơ chế phân tích và điều phối mang tính hệ thống sẽ góp phần nâng cao năng lực phòng ngừa, quản lý và ứng phó khủng hoảng trong bối cảnh rủi ro toàn cầu ngày càng gia tăng.

“Việt Nam cần xây dựng chiến lược ứng phó theo nhiều kịch bản khác nhau, gồm kịch bản tích cực, trung tính và tiêu cực. Cách tiếp cận đa tầng này sẽ giúp nền kinh tế chủ động hơn trước các biến động khó lường”, ông Hiếu khuyến nghị.

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) đã phát công văn khẩn tới các hiệp hội ngành hàng và logistics, yêu cầu chủ động ứng phó rủi ro thương mại và vận tải quốc tế. Theo đó, doanh nghiệp cần đa dạng hóa thị trường, nguồn cung; siết chặt điều khoản hợp đồng, bảo hiểm và xây dựng kịch bản ứng phó linh hoạt; đồng thời theo sát biến động giá cước, phụ phí để tránh ùn tắc xuất nhập khẩu. Bộ cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng, không để thiếu hụt xăng, dầu trong nước.