Khi các bên đều thận trọng với điện gió ngoài khơi

Thay vì phát triển nóng, các ý kiến đến từ cả khối doanh nghiệp nhà nước và tư nhân quy mô lớn đều thể hiện sự cẩn trọng dành cho điện gió ngoài khơi ngay từ khâu thiết kế chính sách.

Cánh đồng điện gió tại Bạc Liêu. Ảnh: THÀNH ĐẠT
Cánh đồng điện gió tại Bạc Liêu. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Trong quá trình lấy ý kiến góp ý cho dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 253/2025/QH15 về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030, điện gió ngoài khơi nổi lên là lĩnh vực nhận được nhiều kiến nghị nhất từ các tập đoàn năng lượng lớn.

Bài học hậu giá FIT

Bản tổng hợp, giải trình của Bộ Công thương cho thấy, các ý kiến đều xuất phát từ bài học của giai đoạn bùng nổ điện mặt trời, điện gió trên bờ theo cơ chế giá FIT (biểu giá điện hỗ trợ được Chính phủ quy định để mua điện từ các nguồn năng lượng tái tạo với mức giá ưu đãi cố định trong thời gian dài). Khi đó chính sách ưu đãi mạnh đã giúp Việt Nam nhanh chóng mở rộng công suất nguồn điện tái tạo. Nhưng phát triển nhanh cũng để lại nhiều hệ lụy: quá tải lưới truyền tải, dự án triển khai dàn trải, năng lực tài chính và quản trị của không ít nhà đầu tư không theo kịp quy mô đầu tư.

Điện gió ngoài khơi có đặc điểm suất đầu tư lớn, thời gian chuẩn bị dài và rủi ro kỹ thuật cao, được nhìn nhận là không có dư địa cho sai số chính sách. Đây là lý do khiến các “thương hiệu mạnh” trong ngành năng lượng kiến nghị siết chặt hai trục: năng lực nhà đầu tư và cơ chế giá điện.

Cả ba tập đoàn nhà nước gồm Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN) và Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đều cho rằng, điện gió ngoài khơi phải được phát triển như một cấu phần chiến lược của hệ thống năng lượng quốc gia, chứ không đơn thuần là một làn sóng đầu tư.

EVN nhấn mạnh rủi ro nếu cho phép quá nhiều doanh nghiệp cùng lúc tiếp cận khảo sát, đề xuất dự án trong khi chưa có tiêu chí sàng lọc đủ mạnh về năng lực tài chính, kinh nghiệm và khả năng triển khai. Điều này có thể dẫn tới tình trạng “xí phần” không gian biển nhưng không đủ năng lực thực hiện, gây lãng phí tài nguyên và méo mó quy hoạch.

PVN đặc biệt lưu ý, nhà đầu tư phải chứng minh năng lực khảo sát địa chất hải dương, thi công ngoài khơi cũng như năng lực quản trị rủi ro kỹ thuật và tài chính. Trong khi đó, TKV nhìn nhận, việc mở rộng danh sách nhà đầu tư mà không gắn với năng lực thực chất có thể tạo ra áp lực lớn cho hệ thống điện.

Ở vấn đề liên quan giá điện, EVN cho rằng trong giai đoạn đầu phát triển điện gió ngoài khơi, giá điện không nên được coi là tiêu chí quyết định để lựa chọn nhà đầu tư. Các yếu tố cấu thành chi phí chưa thể xác định đầy đủ khi chưa có kết quả khảo sát chi tiết. Việc buộc nhà đầu tư đề xuất giá điện sớm có thể dẫn tới hai kịch bản rủi ro: giá mang tính hình thức hoặc tạo áp lực giảm giá không thực chất.

Về phía Petrovietnam, tập đoàn này cho rằng, mỗi dự án điện gió ngoài khơi thường có vòng đời dài, chi phí đầu tư lớn và phụ thuộc mạnh vào điều kiện tự nhiên. Việc “neo” giá điện quá sớm trong khi chưa có đầy đủ dữ liệu kỹ thuật có thể khiến dự án phải điều chỉnh hoặc kéo dài tiến độ.

TKV bổ sung, giá điện gió ngoài khơi cần được đặt trong bài toán chi phí hệ thống gồm: đầu tư lưới truyền tải, nguồn dự phòng và khả năng hấp thụ công suất. Nếu chỉ nhìn vào giá mua điện danh nghĩa, rủi ro cuối cùng có thể dồn lên người tiêu dùng và ngân sách nhà nước.

Tiếp thu các ý kiến này, Bộ Công thương cho biết, dự thảo Nghị định đã được điều chỉnh theo hướng làm rõ và nâng cao yêu cầu về năng lực nhà đầu tư, tránh lặp lại cách tiếp cận “mở cửa ồ ạt” từng áp dụng ở giai đoạn FIT. Bên cạnh đó, Bộ Công thương cho biết định hướng không coi giá điện là tiêu chí sàng lọc chính ở giai đoạn chấp thuận chủ trương đầu tư. Trọng tâm sẽ chuyển sang năng lực nhà đầu tư và tính khả thi tổng thể. Giá điện sẽ được hoàn thiện ở giai đoạn sau khi đã có đủ dữ liệu khảo sát.

Đòi hỏi về “luật chơi dài hạn”

Các tập đoàn tư nhân quốc tế và trong nước như Copenhagen Infrastructure Partners (nhà đầu tư và phát triển năng lượng tái tạo có trụ sở tại Đan Mạch, chuyên về điện gió ngoài khơi) và VinEnergo (Công ty CP Năng lượng VinEnergo) cùng chung quan điểm về sự cần thiết của khung pháp lý ổn định, minh bạch và lộ trình rõ ràng. Tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư ngay từ giai đoạn khảo sát được đề cao, thay vì chỉ siết ở khâu chấp thuận chủ trương đầu tư.

Điện gió ngoài khơi không nên cho phép cách tiếp cận “xin khảo sát trước, tính sau”. Hoạt động khảo sát tiêu tốn chi phí lớn, chiếm giữ không gian biển và có thể tạo ra lợi thế không công bằng cho nhà đầu tư đi trước nhưng không đủ năng lực triển khai.

Copenhagen Infrastructure Partners cho rằng, việc Nhà nước chủ động thiết kế “hành lang khảo sát có điều kiện” sẽ giúp giảm rủi ro chính sách và nâng cao chất lượng dự án. Nhà đầu tư tham gia khảo sát cần chấp nhận cơ chế sàng lọc nghiêm ngặt. Đổi lại là quyền tiếp cận quy trình đầu tư rõ ràng, minh bạch và có tính kế thừa sang giai đoạn triển khai.

Trong khi đó, VinEnergo nhấn mạnh tiêu chí lựa chọn không nên dừng ở quy mô vốn hay hồ sơ năng lực. Cần đánh giá khả năng quản trị dự án dài hạn, kinh nghiệm làm việc với các cơ quan quản lý và khả năng chịu đựng rủi ro trong chu kỳ đầu tư kéo dài 20 - 30 năm.

Các doanh nghiệp đều gặp nhau ở đòi hỏi tính ổn định về chính sách bên cạnh các ưu đãi liên quan. Việc Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong giai đoạn đầu (ngay từ khâu quy hoạch, khảo sát đến lựa chọn nhà đầu tư) được xem là điều kiện tiên quyết để thu hút dòng vốn dài hạn và tránh rủi ro pháp lý.

Nhìn tổng thể, các kiến nghị của doanh nghiệp đầu ngành cho thấy thay đổi rõ nét trong tư duy tiếp cận phát triển điện gió ngoài khơi so với thời gian trước. Điều này đang được phản chiếu trong cách thiết kế chính sách theo hướng chọn lọc, kiểm soát rủi ro và đặt an ninh hệ thống lên hàng đầu thay vì chạy theo mục tiêu công suất bằng mọi giá.

Bộ Công thương cho biết, quan điểm điện gió ngoài khơi sẽ được “lọc” ngay từ khâu khảo sát và coi đây là bước sàng lọc quyết định. Thông qua đó bảo đảm chỉ những nhà đầu tư đủ năng lực và đủ cam kết dài hạn mới có thể đi tiếp tới giai đoạn triển khai dự án.

Theo dữ liệu mới từ tổ chức phi chính phủ Mỹ chuyên về giám sát năng lượng toàn cầu (Global Energy Monitor), năm 2025, tổng công suất toàn cầu của các dự án điện gió và điện mặt trời quy mô lớn đã tăng 11%, từ 4,4 terawatt (TW) lên 4,9 TW.