Khai thác hiệu quả dư địa tăng trưởng mới

Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2026 và giao chỉ tiêu cụ thể cho từng địa phương. Việc mở rộng không gian phát triển sau sắp xếp đơn vị hành chính được kỳ vọng tạo thêm dư địa để các địa phương phát huy lợi thế.

Tăng trưởng kinh tế địa phương đạt được nhiều kết quả tích cực. Ảnh: NAM NGUYỄN
Tăng trưởng kinh tế địa phương đạt được nhiều kết quả tích cực. Ảnh: NAM NGUYỄN

Tại Nghị quyết số 01 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo, điều hành nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) cả nước năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên. Mục tiêu tăng trưởng phải gắn với yêu cầu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn.

Nền tảng quan trọng cho phát triển bền vững

Theo kịch bản tăng trưởng được nêu tại Nghị quyết, GDP quý I/2026 phải đạt 9,1%; quý II đạt 10,2%; quý III đạt 10,2% và quý IV đạt 10,4%. Qua đó, tăng trưởng GDP dự kiến đạt khoảng 9,7% trong sáu tháng đầu năm, 9,9% trong chín tháng và 10% cho cả năm 2026. 28 địa phương được xác định phải tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) từ 10% trở lên, trong khi chỉ có sáu địa phương dự kiến tăng trưởng dưới 10%. Hải Phòng được giao chỉ tiêu tăng trưởng GRDP cao nhất cả nước, ở mức 13 - 13,5%.

Theo Cục Thống kê, trong năm 2025, các địa phương trên cả nước đã triển khai đồng thời nhiều nhiệm vụ trọng tâm trong bối cảnh thực hiện “mục tiêu kép”: vừa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, vừa thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền địa phương hai cấp theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp ủy, chính quyền và sự vào cuộc đồng bộ của các ngành, địa phương, cùng với sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp và người dân, tăng trưởng kinh tế địa phương đạt được nhiều kết quả tích cực. Tăng trưởng GRDP của nhiều địa phương duy trì ở mức khá, đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của cả nước.

Phần lớn các địa phương có tốc độ tăng trưởng hơn 7% (chỉ có 5 tỉnh có tốc độ tăng trưởng dưới 7%). Ở nhóm địa phương đạt tăng trưởng hơn 10% (với 6/34 tỉnh, thành phố), Quảng Ninh và Hải Phòng tăng cao nhất với mức tăng lần lượt là 11,89% và 11,81%, phản ánh khả năng tận dụng hiệu quả các dòng vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và sự bứt phá mạnh mẽ của các ngành công nghiệp và dịch vụ. Nhóm tỉnh, thành phố có tăng trưởng ổn định từ 7%-10% chiếm đa số (với 23/34 tỉnh, thành phố), phản ánh xu thế phục hồi và mở rộng chung của nền kinh tế, cũng như tác động lan tỏa tương đối đồng đều của các chính sách vĩ mô.

Nhóm tăng trưởng thấp dưới 7% (5/34 tỉnh) cho thấy, dù còn khó khăn nhưng không có địa phương nào rơi vào tình trạng tăng trưởng trì trệ. Khoảng cách tăng trưởng giữa nhóm dẫn đầu và nhóm cuối đặt ra yêu cầu tăng cường điều tiết và phân bổ nguồn lực hợp lý hơn.

Theo PGS, TS Đào Ngọc Tiến, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Ngoại thương, một bài học quan trọng có thể rút ra là tinh thần “hành động”. Trên thực tế, nhiều địa phương đã chủ động thích ứng, điều chỉnh linh hoạt trong điều hành, đồng thời kịp thời tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất. “Nhờ sự đồng hành và hỗ trợ này, cộng đồng doanh nghiệp cũng cho thấy khả năng phản ứng nhanh trước những biến động của thị trường, chủ động điều chỉnh hoạt động để thích ứng với các thay đổi chính sách từ các nền kinh tế lớn”, ông Tiến nhận xét.

172.jpg
Các địa phương cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Ảnh: NGUYỄN NAM

Phát huy kinh nghiệm điều hành linh hoạt

Việc duy trì đà tăng trưởng GRDP của các địa phương vẫn đối mặt với không ít khó khăn và thách thức. Trên bình diện quốc tế, biến động giá nguyên vật liệu đầu vào, chi phí logistics gia tăng và nguy cơ gián đoạn cục bộ chuỗi cung ứng vẫn hiện hữu. Những yếu tố này có thể tác động trực tiếp đến các địa phương có cơ cấu kinh tế phụ thuộc nhiều vào sản xuất công nghiệp và xuất khẩu, đặc biệt là nhóm tỉnh có tỷ trọng doanh nghiệp FDI lớn. Nhu cầu tiêu dùng và đầu tư toàn cầu phục hồi chưa đồng đều, tiếp tục hạn chế dư địa tăng trưởng ngắn hạn.

Ở trong nước, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công tại một số địa phương còn chậm, làm giảm hiệu ứng lan tỏa của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế. "Sức khoẻ" thị trường bất động sản chưa ổn định, thanh khoản thấp cũng ảnh hưởng tiêu cực đến các ngành liên quan như xây dựng, vật liệu và dịch vụ tài chính. Ngoài ra, thiên tai, mưa lũ hoặc dịch bệnh cục bộ tại một số địa phương có thể gây gián đoạn sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của người dân.

Ông Tiến cho rằng, việc duy trì đà tăng trưởng vẫn được đánh giá là khả thi nếu các địa phương tiếp tục phát huy kinh nghiệm điều hành linh hoạt, đồng thời đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng sản xuất và khai thác hiệu quả hơn các dư địa tăng trưởng mới. Trong nhiều năm qua, kinh tế Việt Nam vẫn tập trung chủ yếu vào một số địa phương đầu tàu, trọng điểm, đóng góp hơn 55% tăng trưởng GDP của cả nước.

Vì vậy, các trung tâm kinh tế cần tiếp tục củng cố vai trò dẫn dắt, đồng thời tăng cường liên kết vùng để tạo điều kiện cho các địa phương còn nhiều tiềm năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và đóng góp lớn hơn cho tăng trưởng chung. Chủ trương sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính còn 34 tỉnh, thành phố được kỳ vọng sẽ mở rộng không gian phát triển, gia tăng nguồn lực và nâng cao hiệu quả phân bổ đầu tư.

Đồng tình với quan điểm này, TS Võ Trí Thành, Viện trưởng Nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh cho rằng, quá trình tinh gọn bộ máy và sắp xếp lại các đơn vị hành chính theo mô hình chính quyền hai cấp đang mở ra một không gian thể chế mới, tạo điều kiện để phân cấp, phân quyền mạnh mẽ hơn. Qua đó, giúp các địa phương và bộ, ngành phát huy tinh thần trách nhiệm, tăng tính chủ động, sáng tạo và hành động quyết liệt hơn trong điều hành phát triển kinh tế - xã hội.

Mô hình này không chỉ góp phần tinh gọn bộ máy hành chính mà còn đóng vai trò như một động lực thể chế quan trọng, thúc đẩy sự vận hành linh hoạt và phù hợp hơn với thực tiễn từng địa phương. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong việc triển khai các chương trình đầu tư công, xúc tiến đầu tư, cải cách thủ tục hành chính hay thúc đẩy chuyển đổi số, những lĩnh vực được xem là chìa khóa để tạo ra các động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế trong giai đoạn tới.

Để thật sự phát huy hiệu quả, theo ông Thành, vẫn cần thêm thời gian để các địa phương thích nghi, nhất là trong công tác quy hoạch và tổ chức không gian phát triển. Quy hoạch trong bối cảnh mới không còn là phép cộng cơ học giữa các đơn vị hành chính cũ, mà đòi hỏi tư duy tích hợp, liên kết vùng chặt chẽ hơn, đồng thời xác định rõ những lợi thế cạnh tranh mới của từng địa phương sau sắp xếp. Trong bối cảnh đó, vai trò của người đứng đầu càng trở nên quan trọng, không chỉ ở tầm nhìn chiến lược mà còn ở khả năng tổ chức thực thi và dám chịu trách nhiệm.

“Khi không gian phát triển được mở rộng, nguồn lực được phân bổ hiệu quả hơn và chính quyền địa phương chủ động hơn trong điều hành, các động lực tăng trưởng mới hoàn toàn có thể được kích hoạt. Đây cũng được xem là nền tảng quan trọng để Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong năm 2026 cũng như giai đoạn tiếp theo”, vị chuyên gia này kỳ vọng.

Nếu tính từ năm 1990 trở lại đây, Việt Nam đạt được mức tăng trưởng cao nhất là 9,5% (năm 1995) và 9,3% (năm 1996).