Tấm bánh chưng muội

Năm 1985, bão lụt lớn ở quê tôi nhấn chìm làng mạc trong biển nước. Mất mùa khiến nhà tôi túng thiếu. Tết Bính Dần 1986, mẹ bảo: “Năm nay không có pháo, bánh chưng bớt đi một nửa”. Tôi buồn xo.

Minh họa: PHÚ ANH
Minh họa: PHÚ ANH

Trẻ con nhà quê ngày đó chỉ cần biết nhà mình đốt mấy bánh pháo, pháo tép, pháo chuột hay pháo đùng, gói mấy chục cái bánh chưng, đụng lợn hay mua thịt chợ, để so nhau xem “Tết nhà mày to hay bé?”.

Chỉ mấy ngày nữa là Tết, mưa lâm thâm cắt da, cắt thịt. Mất mùa, rơm rạ cũng thiếu, người lớn hạn chế trẻ con rút rơm để bện bùi nhùi. Không có góc hõm nào của những cây rơm lớn như mọi năm, để chúng tôi có thể rúc rích chúi đầu vào đó mà chơi trốn tìm và ẩn gió, sưởi ấm. Co ro trong khăn áo mỏng, chân đất, đầu trần, những cánh mũi đỏ tớn lên và môi run lập cập vì lạnh, có sao đâu, chúng tôi khụt khịt so nhau cái Tết của nhà mình. Những đôi bàn tay tím tái xòe cong năm ngón, vung lên oai oách theo từng tiếng đếm bánh chưng và pháo tép rõ ràng, rành mạch. Năm ấy, rất ít đứa có áo quần hay dép mới để khoe…

Nhà tôi ít người nhất xóm, lại chỉ mỗi cha là người đàn ông duy nhất, nên năm nào cũng gói ít bánh chưng nhất. Năm đó mẹ lại “tuyên bố” giảm lượng bánh đi một nửa khiến tôi tủi thân, hễ thấy mấy đứa đem chuyện Tết ra so, tôi lỉnh ra một chỗ, rân rấn chấm nước mắt. Mùa đông là mùa cha ốm. Từ khi tôi tròn một tuổi, có thể nhớ được những chuyện xảy ra trong nhà, đã thấy cha ho sù sụ suốt ngày, nhất là về mùa đông. Mỗi đợt giáp Tết, rét đậm, cha càng ho nặng, nằm lún mình trong ổ rơm. Mẹ đã dành tất cả chỗ rơm của vụ mất mùa mới lót được hai ổ rơm cho cả nhà chống rét. Ban ngày, tôi ngồi bên cha giữa những cơn ho quặn thắt, ngoài ngõ là tiếng lũ trẻ hò hét chơi đùa. Cha biết tôi buồn, bảo ra ngõ chơi. Cha dặn: “Đừng tranh đua cãi nhau với các bạn, con sẽ vẫn có tấm bánh muội!”.

Nhà tôi có một vườn trồng lá dong bánh mật, thứ lá mầu xanh cốm, lá to, bản lá dầy, dai mà óng, mịn như lụa, đem gói bánh chưng, lá cho bánh mầu xanh cốm non, không nhớt và không bị thâm. Cả làng đều mua lá nhà tôi, còn dư chị tôi mới mang bán chợ Tết. Cứ giáp Tết, tôi phụ cha mẹ bó lá cho chị đem bán.

Bánh chưng muội, tấm bánh được gói cuối cùng, khi cha đã gói đủ số bánh định sẵn, còn lại chút gạo, chút nhân đỗ xanh, chút thịt, dành cả cho tấm bánh muội. Đó là món quà của đêm 30 Tết hằng năm trong chủ ý của cha mẹ, dù lượng bánh năm ấy nhiều hay ít, đều được tính dư ra một chút để gói bánh muội, tấm bánh đặc biệt, bé hơn cả mà nhiều nhân, ngon hơn.

Nhà tôi năm nào cũng luộc bánh vào tầm gần trưa ngày 30 Tết. Tấm bánh đầu tiên được đặt lên bàn thờ thắp hương tổ tiên trước Giao thừa, bao giờ cũng vẫn còn ấm nóng. Riêng bánh muội, cha mẹ cho phép tôi được thưởng thức ngay từ lúc bánh được nhấc ra khỏi nồi, nóng sút. Cả một ngày cuối cùng của năm cũ, sáng sớm, tôi ngồi bên xem cha gói bánh, đếm từng chiếc vuông vức, phấp phỏng chờ bánh muội. Cha ốm, nhưng bao giờ cũng cố gắng thuốc thang để khá hơn trong những ngày Tết, để tự tay gói bánh, bởi không ai gói đẹp bằng cha. Và khi bánh chín, đón lấy tấm bánh muội thơm lựng, nóng hổi, món quà đầu tiên của năm mới mà cha mẹ dành cho, lúc ấy, chẳng còn nghĩ gì đến Tết nhà mình năm nay to hay bé.

Bây giờ, nhà tôi ở quê vẫn gói bánh muội cho trẻ nhỏ, dù cha không còn. Bánh muội là tấm bánh của tình cha nồng ấm, tình mẹ chắt chiu.