Thương bánh đa bánh tráng

Nhà tôi gốc bắc, nhưng tôi sinh ra và lớn lên ở một thị trấn miền tây. Ở đó, có một xóm nhỏ với cái “tiệm tạp hóa”, nếu có thể gọi như vậy, của bà Chè. Trong ký ức ấu thơ của mấy chị em tôi, “quán bà Chè” hầu như chẳng hề thiếu thứ gì trên đời. Hết gạo hết muối, mẹ sai chúng tôi ra mua. Hết dầu ăn hoặc dầu hôi, nhà thiếu cục phấn may cho tới cái bóng đèn hột vịt, cũng ra tiệm bà Chè. Cần mớ củ cải muối, hay viên thuốc đau bụng, cũng có luôn, mới tài.

Ảnh: ANH QUÂN
Ảnh: ANH QUÂN

Kêu là tiệm, là quán cho sang, chứ nhà bà Chè nhỏ rí, đồ đạc bày chật cứng, la liệt, bất cứ chỗ nào trong cái không gian hẹp té đó cũng được tận dụng để chất các thứ hàng hóa. Hẳn chỉ mỗi mình bà Chè mới có cái khả năng phi phàm là nhớ nổi món nào cất ở chỗ nào. Bằng chứng là sau khi bà mất, con cháu bà không ai nối nghiệp để tiếp tục kiên nhẫn bán lẻ từng món đồ chẳng đáng mấy đồng cho lối xóm nữa. Bởi riêng cái việc nhớ và đòi được từng khoản nợ be bé kia thôi đã là kỳ công rồi.

Lũ trẻ chúng tôi ngày ấy rất thích được mẹ sai đi quán. Dư được vài đồng lẻ, là mua ngay mấy viên kẹo chanh ngọt lừ. Hoặc mua bánh đa. Nhà bà Chè luôn có sẵn thứ bánh đa bắc có điểm chút mè đen, mè vàng lấm tấm, được nướng trên bếp than, bỏ vào trong bịch kín cho khỏi bị mềm ỉu. Nhìn cái “vòng tròn” ăn được ấy sao mà hấp dẫn lạ kỳ. Chị em dùng tay bẻ nhỏ ra rồi chia nhau ăn, rất vội. Thử hỏi xem, có tuổi thơ của đứa trẻ nào chẳng gắn với bánh đa kia chứ. Lại có khi, mẹ tôi mua về xấp bánh đa rồi chịu khó quạt than, ngồi nướng, trong nỗi háo hức đợi chờ của lũ con. Đó thường là vào mùa mưa, rảnh việc, và cái thói trời rả rích khiến cho người ta thường cảm thấy thèm được cầm cái bánh đa nong nóng ở trên tay.

Những năm sau này, tôi thi thoảng bắt gặp trên phố, có người ngồi nướng bánh đa, bánh tráng ở vỉa hè. Ngang qua, cảm giác sao mà gần gũi thân thương vô cùng. Các thứ bánh đa giờ khác xưa nhiều, đa dạng hơn, đáp ứng nhu cầu buồn miệng ăn vặt của nhiều mẫu người khác nhau. Ngồi ở bàn nhậu bình dân, thế nào cũng có một vài chị bán hàng rong xách theo lủ khủ đồ ăn vặt, trong đó có bánh tráng nướng, mời chào. Giờ bánh tráng đã được vài người len lén chiên trên chảo dầu, cho đỡ mất công quạt than, rị mọ xoay trở, lại dễ bị quá lửa mà cháy khét. Có cả bánh tráng tôm, bánh tráng dừa này nọ, đặc sản vùng, miền nhập vào thành phố. Thế nhưng nhắc tới, thì vẫn cứ nhớ cứ thèm loại bánh đa dân dã truyền thống ngày nào.

Tình cờ có một chiều muộn, hai mẹ con tôi đang ngồi đợi vá xe, thì một chị quảy gánh “bánh tráng nướng” đi ngang qua. Tôi mừng rỡ mua ngay một cái. Thấy chị tỉ mẩn phết thêm một lớp đường đã được thắng keo lại như mạch nha, rồi rắc thêm dừa non nạo thành sợi. Cắn một miếng giòn rụm, nghe ngon lành, thơm nức, ngọt ngào. Cơn đói vội vàng lùi xa ngay lập tức. Con gái tôi hào hứng bảo, loại bánh đa này ngon quá chừng mẹ ơi!

Tôi nhìn đứa trẻ đang tận hưởng món quà quê, lòng chợt rưng rưng nhớ tới cái gian nhà lá lụp xụp của bà Chè. Thương tuổi thơ thiếu hụt của mình, thương cái bánh đa tròn tròn được chia ba bẻ tư trong cái bếp be bé ấm sực bộn bề…

Có thể bạn quan tâm

Dòng sông miền Tây. Ảnh: NAM NGUYỄN

Dòng sông không địa chỉ...

Trong hành trình rong ruổi của mình, có dòng sông tôi ghé lại chỉ để... thương một người. Với tôi, dòng sông Cái Lớn và chú Nguyễn Văn Lúa (cù lao Tắc Cậu, xã Châu Thành (Kiên Giang cũ), nay là An Giang) là một ký ức như thế.

Thú vui đàm đạo. Ảnh: SONG ANH

Người ở phố Hàng

Hà Nội ba sáu phố phường - khu vực các phố Hàng được coi là trung tâm kẻ chợ, nơi sầm uất, phát triển phong phú nhất của Hà thành, tạo nên nền tảng văn hóa, nhịp đập cho trái tim Thăng Long từ thuở những xa xôi lịch sử.

Chiếc máy ép mía chạy sức trâu của ông ngoại nằm yên sau nhiều năm không sử dụng.

Mùi mật mía năm xưa

Dưới mái hiên cũ kỹ của căn nhà ngoại, tôi vẫn thường ngồi lặng im, nhìn ra cánh đồng sau hè. Nơi ấy, cỏ voi, cỏ dại đã che khuất. Nhưng chỉ cần cơn gió nhẹ thổi qua làm lay động vạt cỏ xanh, tôi lại thấy thấp thoáng hai khối sắt sần sùi còn sót lại của chiếc máy ép mía ông ngoại từng dùng.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

Nỗi nhớ sông Đà

Tháng ba dương lịch năm con Ngựa. Mùa xuân đang chín ửng. Ban ngày nhiệt kế chỉ 25 nhưng đêm tụt xuống 17 độ, vẫn đủ lạnh với một cựu sĩ quan già, là chính tôi.

Người lao công. Ảnh: NAM NGUYỄN

Người dọn villa Tây

Chị Lê Thị Tịnh, ngụ làng rau Trà Quế (phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng) là một người làm nghề tạp vụ theo giờ cho những căn villa mà khách nước ngoài thuê ở phố Hội.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Vườn sau quán

Năm giờ sáng chợ đã tấp nập. Hằng kéo xe đẩy vào chỗ ngồi quen thuộc, gần cột điện, sát vỉa hè. Chị mở bao tải ra, từng bó đậu bắp xanh mướt xếp lên miếng bạt. Trái non, tươi, còn đọng sương. Hằng ngồi xuống chiếc ghế nhựa thấp, lưng còn mỏi từ hôm qua làm vườn. Ngón tay chai sần, đen nhẻm sau mấy tháng bới đất.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những người đàn bà Nậm Nghẹp

Trên bản Nậm Nghẹp (Sơn La), những ngày hoa sơn tra phủ trắng núi rừng, phía sân sau của nhà A Vạng, mấy người phụ nữ H'Mông đang đồ một chõ xôi lớn để chuẩn bị cho bữa tối.

Ảnh: HẢI ANH

Tiếng chim sẻ bên hiên nhà

Nhà tôi tiếng thuộc thị xã nhưng ở ngoài vành, tách biệt với ồn ào phố xá. Nguyên ngày xưa nhà mẹ đất quê nên chồng tôi - con trai út - ở nhà từ đường được sở hữu khu vườn khá rộng. Và tôi - con dâu của mẹ tha hồ hiện thực hóa giấc mơ đem thiên nhiên vào nhà.

Minh họa: VÕ LƯƠNG NHI

Giấc mơ huyền diệu

Mẹ lay người mấy lần nó mới tỉnh. Khuôn mặt nó vẫn còn phảng phất nụ cười rạng rỡ. “Con mơ thấy gì mà cười khoái chí thế hả?”, mẹ hỏi.

Quán trà nhỏ mùa hoa Hà Nội

Tháng ba, Hà Nội bỗng nhẹ tênh như vừa thức dậy sau giấc ngủ dài. Mùa xuân ở đây không ồn ào, cũng chẳng phô trương. Chỉ là một buổi sáng đi qua con phố quen, bỗng thấy những chùm hoa sưa trắng muốt như mây rơi xuống lòng đường.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Cây gạo mắc oan

Chiều buông. Lũ trẻ lùa trâu về nhà, qua cây gạo cổ thụ ụ rễ to sụ, ngoằn ngoèo như con trăn chúa gần cánh đồng hoang.

Ảnh: ANH QUÂN

Người của rừng

Mỗi lần bà tôi cho ra chợ phố chơi, mọi người thường chào hỏi bà tôi bằng câu: “Mới trong rừng ra hả?”.

Người không đi cùng hôm đó

Tôi đứng trước một nấm mộ nhỏ, bó hoa ly trắng khẽ đung đưa theo gió, mùi hương thoảng. Những đám mây thả nhẹ trên nền trời trong.

Nhớ. Ảnh: NAM NGUYỄN

Vọng cố hương

Ngày nào trong tuần ông cũng ở nhà một mình, như đứa trẻ được con cháu dặn dò đủ thứ cần lưu ý, nhưng tâm trí của ông cứ nhớ nhớ quên quên, vì nay ông đã ngoài tám mươi.

Minh họa: NGUYỄN NGHĨA CƯƠNG

Gió phai màu tóc

Bây giờ người ta thấy chú thím Sáu tôi tóc hai màu mà vẫn ríu rít bên nhau thì bảo là sến quá. Gì mà ông chồng phải nhổ tóc sâu cho vợ? Nắng gió đã phai hết màu nước đen óng ả mà sao thím cứ sến súa thả mái tóc muối nhiều hơn tiêu cho chồng chải giúp thật sến súa quá đi.

Đèo Đá Trắng. Ảnh: NAM HẢI

Trên đèo Đá Trắng

Chiếc xe bán tải đỗ xịch lại ngay cạnh cái lán được dựng bên khúc cua trên đèo Đá Trắng. Xe được dán chằng chịt những logo khá “hầm hố”. Cả cánh cửa bên hông được trang trí hình ảnh của một thổ dân da đỏ với những chiếc lông chim gắn ở trên đầu, cho thấy chủ nhân của chiếc xe có vẻ là những “tay chơi” thứ thiệt.

Ảnh: HẢI ANH

Thăm nhà cũ ngày xuân nắng nhạt

T rong vùng ký ức xưa cũ nhất của tôi là hình ảnh chập chờn một đứa trẻ lên ba, lên bốn, ngồi trên chiếc giường đặt tạm giữa sân.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Bóng trăng

Ngày nhiều gió, Hoàng chở cây hoàng yến sau xe máy, gạt chống xe rồi mở khóa cổng vào nhà. Anh loay hoay trồng cây hoàng yến, nhắm hướng cho vừa tầm với góc nhìn của My từ ô cửa sổ trên căn gác.

Chung tay làm bánh của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: BẮC SƠN

“Nón lắp bo mi xẩu quyệt”

Trong tiếng Thái vùng núi Thanh Hóa, có một câu nói ví von đầy ý nhị nhưng cũng thật trần trụi về nhu cầu cơ bản của con người: "Kin khẩu bo mi kẻng cắp/Nón lắp bo mi xẩu quyệt". Dịch ra tiếng Kinh, nghĩa là: “Ăn cơm không có canh khác gì đi ngủ không có người ôm”.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Tin vào cánh đào xuân

Đầu giờ chiều, trên bãi đất trống ở trụ sở xã Yên Sơn đã đầy xe máy, xe đạp. Bụi đất đỏ vồng lên thành luồng theo một chiếc xe máy đi từ đường lớn vào sân.

Hát ru. Ảnh: NAM NGUYỄN

Mùa ca dao đã mất

“À ơi... Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay...”, phải chăng ký ức của mỗi người vẫn đang cất giữ những lời ru ầu ơ, vẫn như đang nghe thấy tiếng võng đưa kẽo kẹt…

Ảnh: HẢI ANH

Chợ gốc đa, những sớm mai ở lại

Sáng nào thức dậy sớm, tôi cũng đi bộ về phía gốc đa già nằm giữa đình Quán La và chùa Khai Nguyên (nay thuộc phường Xuân Đỉnh, Hà Nội). Cái chợ nhỏ ấy, họp chẳng cần biển hiệu, cũng không cần mái che, người dân quen gọi là chợ gốc đa.

Ảnh: NGUYỄN NAM

Hết Tết, lại nhớ khói chiều cuối năm

Những chiều cuối năm ấy luôn đến chầm chậm, không báo trước, chỉ bằng lớp nắng mỏng tang trên mái ngói và tiếng chổi quét sân nghe rõ từng nhịp. Chạm đến chiều ba mươi, trong tôi lại dâng lên một cảm giác vừa hồi hộp, vừa bình yên như làn khói mỏng bay từ gian bếp.

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày bé, có lần tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, vườn nhà mình rộng thế, sao mẹ không trồng lấy một khóm hoa”. Mẹ tôi ngần ngừ rồi bảo: “Mẹ không biết nữa, mẹ chỉ muốn trồng gì đó để cả nhà được ăn no”.

Tát ao ăn Tết

Tát ao ăn Tết

Cứ đến khoảng 20 tháng Chạp, các xóm trong làng bắt đầu rủ nhau tát ao lấy cá ăn Tết.

Bên dòng Oka của Yesenin

Bên dòng Oka của Yesenin

Trong hình dung của tôi, không thể ở tận thế kỷ 21 mà trên đời vẫn còn tồn tại một ngôi làng cũ xưa như Konstantinovo. Thế mà có thật. Nó xưa cũ thật sự và vì xưa cũ, cảm giác như trong những cơn gió lạnh vẫn thấy bóng Sergey Yesenin chạy trên những lối mòn.