Và lớp trầm tích thiêng liêng mang niềm tự hào một cách kiêu kỳ thầm kín của người kẻ chợ đã được thể hiện trong câu ca dao “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” (dù địa danh Tràng An còn được bàn luận đa chiều ý kiến, rằng đó là ở tỉnh Ninh Bình, nhưng Tràng An ở trường hợp này đã được coi như một mặc định thông thường chỉ chốn Hà thành). Ấy là cái sự tự kiêu giản dị. Nó cũng như một cách người Tràng An lấy đó tự răn mình, nhắc nhớ về những gì mà tiền nhân dày công vun đắp.
Tôi tới nhà ông, căn nhà ở phố Hàng Đào, lối lên tầng trên có những bậc cầu thang gỗ đã lên nước đen bóng. Vào đầu những năm 2000, đó là lần đầu tiên tôi bước chân vào một căn nhà đẹp đẽ ở ngay phố cổ - phố Hàng mà tôi chưa từng có dịp đi vào. Cũng chẳng có mấy người quen ở khu vực quanh Hồ Hoàn Kiếm để mà cảm nhận.
Ông kiên quyết bắt vị đại tá an ninh và đứa trẻ là tôi phải “thượng” nguyên đôi giày đang đi để bước lên gác hai, nơi được bố trí làm khu vực tiếp khách của gia đình. Ông bảo “khách đến nhà là quý. Chúng tôi không muốn phiền khách bỏ giày khi tới nhà”. “Kính chẳng bõ phiền”, sau khi đã tìm cách để tuột đôi giày bụi bặm ở tầng một mà không được, chúng tôi đành phải rón rén từng bước nhẹ qua những bậc thang gỗ sạch tinh để lên tầng trên của căn nhà. Buổi phỏng vấn người cán bộ cấp cao diễn ra nhẹ nhàng. Ông giải đáp những thắc mắc của chúng tôi về một thời kỳ lịch sử, khi ông còn là Bí thư thành ủy thời kỳ tiền khởi nghĩa. Chất giọng trầm, chậm rãi và cũng đầy tình cảm chân thành khiến tôi cực kỳ ấn tượng. Bỏ qua cái sự run rẩy của một cậu phóng viên mới tập tọe vào nghề, bỏ qua những câu hỏi còn có phần ngô nghê, đụng chạm…, ấn tượng còn theo mãi với lần gặp ấy là sự giản dị, gần gũi, chủ động và hiếu khách của vị chủ nhà đáng kính. Ấy cũng là lần đầu tiên tôi có cảm giác về sự khác biệt của con người phố cổ - phố Hàng.
Sau đó nhiều năm, bắt đầu quen dần với con người và không gian quanh trung tâm kinh tế của Thủ đô là khu vực Bờ Hồ, một chiều, tôi lang thang lên phố Hàng Chiếu, con phố nối từ khu vực trung tâm xuyên qua ô Quan Chưởng vốn là vị trí tiếp nối không gian văn hóa trong phố ra tới khu vực chợ búa tấp nập.
Cậu thanh niên xăm trổ kín người, khẽ đặt đôi đũa lên bát mì vằn thắn còn đang tỏa khói: “Con mời cụ xơi quà”. Câu mời thốt ra không ồn ào, chỉ đủ để những người chung quanh nghe thấy. Bà cụ già tóc bạc trắng khẽ gật đầu, cười nhẹ, rảo bước đi qua. Mọi việc chỉ diễn ra trong thoáng chốc. Bóng xăm trổ lại cắm cúi với bát mì mới kịp ăn vài miếng.
Lời mời “xơi quà” của tay thanh niên “người đầy những mực” thật sự khiến cho tôi bối rối. Cái ngoại hình của một số tay chơi xỏ khuyên, xăm trổ ngày ấy không dễ khiến cho người ta thiện cảm. Tôi, cũng như không ít những người tứ xứ về kiếm sống ở Hà thành, luôn luôn dè dặt mỗi khi có việc phải xuất hiện ở những khu vực nhạy cảm như cửa ga Hà Nội, cửa sau ga Trần Quý Cáp, hoặc quanh những chợ nổi tiếng như chợ giời hay chợ Đồng Xuân… Mà có vẻ cái sự e dè ấy cũng bởi một phần thiếu thiện cảm xuất phát từ những câu chuyện cảnh giác mà người xa hay kể cho nhau mỗi lần phải tới những nơi đông đúc và phức tạp. Những câu chuyện truyền khẩu từ thời tem phiếu chưa xa.
Lớn dần lên, tôi tiếp xúc thường xuyên hơn với những người ở phố Hàng. Nhưng hai cuộc gặp với hai con người rất khác nhau về xuất thân và vị trí xã hội đã giúp tôi thêm phần trải nghiệm. Người ta có thể khác nhau về hình thức, và cả về học vấn hay kinh nghiệm, nhưng cái khiến cho người khác tôn trọng, đầu tiên là phải biết trân trọng chính bản thân mình. Để có lời nói, hành vi đủ làm ấm lòng người khác, không phải là sự tinh tế sẵn có của mỗi cá nhân, nó chắc hẳn đã được nuôi dưỡng bởi trầm tích của cả một miền văn hóa.