Nỗi nhớ sông Đà

Tháng ba dương lịch năm con Ngựa. Mùa xuân đang chín ửng. Ban ngày nhiệt kế chỉ 25 nhưng đêm tụt xuống 17 độ, vẫn đủ lạnh với một cựu sĩ quan già, là chính tôi.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH
Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

Chiếc giường gấp mua ở vỉa hè phố Hàm Long gần 20 năm trước kêu cót két mỗi khi trở mình. Gần tới cái tuổi xưa nay hiếm, xương cốt cũng bắt đầu cót két như chiếc giường cũ mỗi khi trở trời.

Tôi ngồi dậy mở tủ, lấy chiếc áo lính năm xưa khoác thêm vào người. Đêm mùa xuân lạnh, khiến lòng tôi nhớ một đêm xuân rạo rực khác 50 năm trước. Một đêm tuổi trẻ sông Đà khi tôi vừa mới ra trường, đeo quân hàm thiếu úy được hai tháng.

Ngày đó, tôi được điều lên thủy điện sông Đà với số hiệu sĩ quan 80.02.37xx. Công trình thế kỷ này vừa khởi công chưa đầy nửa năm. Khi tôi đến, sông Đà đã giống như một thành phố trẻ đang mọc lên giữa núi rừng. Đường bê-tông chằng chịt ngang dọc khắp mặt bằng. Xe ca Ba Đình chở công nhân ba ca chạy suốt ngày đêm. Khu Tổng bộ bên bờ tả ngạn đã lắp xong những khối nhà cao tầng dành cho chuyên gia Liên Xô và cán bộ công trường. Làng chuyên gia, nơi tôi được phân công làm chánh OTK nằm trên dãy đồi bên suối Đúng, với những block nhà năm tầng trát đá rửa, cây xanh trồng theo phong cách Nga.

Mang danh công trình thanh niên Cộng sản nên đủ mặt anh tài tuổi trẻ, đủ mọi ngành nghề đổ dồn về đây. Có người sau này là lãnh đạo cấp bộ, thì khi ấy mới là phó phòng thi công, hơn tôi vài tuổi và kể chuyện tiếu lâm cũng cuốn hút như chơi đàn gió. Giới văn nghệ có nhiều nhà văn, nhà thơ và công trình thủy điện là nơi ra đời tác phẩm “Con chim biết chọn hạt” của một anh trong số đó.

Thiếu úy tôi không có khiếu viết văn nhưng đang khoái dịch tập truyện tiếng Nga sang tiếng Việt, lại đang giữ vị trí “có mầu” ở làng chuyên gia, nên căn phòng của tôi luôn là chỗ lui tới tán gẫu của nhiều người trong số họ. Chính một nhà văn nổi tiếng đã lịch sự khen các bản dịch của tôi:

- Dịch khá lắm! Lên đủ chất thơ trong văn xuôi bàng bạc của Pautovski!

Tôi phụ trách công tác KCS, ngoài việc chính là kiểm tra nghiệm thu các hạng mục công trình dân dụng, tôi còn có trách nhiệm phải đọc biển lý lịch gắn trên thành các thùng hàng đến từ Liên Xô, để biết có gì bên trong, cung cách đóng gói của nó như thế nào. Vậy nên khi nào biết hàng được quấn trong chăn dạ hay vải nỉ, là những thứ còn hiếm với Việt Nam ngày ấy, thì tôi lại thu những thứ đó vào một đống, phân phát dần cho bạn bè.

Xa xỉ nhất thời đất nước gian khó là các lọ nước tắm thơm, các hóa chất tẩy mùi xả két nước bồn cầu chuyên gia. Ngoài mùi hương cũng dễ chịu thì cái vỏ chai cũng khá bắt mắt. Thế cho nên cứ ngửi thấy mùi này ở đâu thì người quen của tôi biết ngay tay thiếu úy này đã rộng lòng phát tâm tặng cho các cô nàng mà hắn biết.

Theo chức trách nhiệm vụ, tôi gắn liền với chuyên gia Liên Xô như hình với bóng. Làng chuyên gia có biên chế năm chuyên gia thủy công Liên Xô, đi kèm với họ là năm phiên dịch người Việt, gồm anh chánh văn phòng và bốn nàng phiên dịch xinh tươi vừa đi tu nghiệp chín tháng ở Nga về. Theo chương trình đào tạo tiếng Nga hồi đó, đến năm thứ tư, sinh viên khoa tiếng Nga được đi Liên Xô khoảng 9 tháng để tu nghiệp. Theo nhiệm vụ phân công, nhóm ba người gồm tôi, kỹ sư trưởng Timosenko và em phiên dịch luôn đi kèm với nhau nửa bước không rời, tất nhiên trừ những ngày nghỉ.

Em phiên dịch, để cho tiện bây giờ tôi sẽ gọi là nàng. Nàng ở ngoài Tổng công ty, trong tòa nhà năm tầng thuộc khu ký túc xá dành cho lãnh đạo Tổng bộ và phiên dịch. Ở cùng phòng với nàng là Hiền, ái nữ của một lãnh đạo bộ khi đó. Hiền cũng là phiên dịch và là bạn cùng lớp tiếng Nga với nàng. Tôi ở một phòng trong dãy nhà hai tầng của công ty dân dụng liền kề làng chuyên gia này.

Tôi ham thích ngoại ngữ, nay có bạn nữ cùng môi trường công tác thực hành tiếng Nga lý tưởng, khỏi nói là đã sung sướng thế nào. Nàng thường xuyên tìm cớ đi bên tôi không chỉ trong thời gian làm việc. Mùa hè vào những ngày nắng gắt, nàng để tôi đi với chuyên gia một mình. Chắc nàng sợ nắng gió công trường làm sạm cháy mất làn da trắng ngà. Nàng bảo anh còn giỏi tiếng Nga chuyên ngành hơn em. Anh và kỹ sư trưởng đi với nhau là đủ rồi.

Công trình chúng tôi đang bận túi bụi chạy tiến độ theo biểu đồ Gantt mà chuyên gia và lãnh đạo bộ đã duyệt. Mùa mưa lũ đang ngấp nghé tới gần. Với tinh thần khẩu hiệu: “Cao trình 128 hay là chết”, các đoàn viên thanh niên cộng sản hăng say làm việc quên mình. Ngày đó, nhân vật Pavel Corsaghin trong cuốn “Thép đã tôi thế đấy” là idol thần tượng của tôi.

Một đêm, lúc ca ba đã vào sâu lắm, kỹ sư trưởng cùng chúng tôi mới rời khỏi hiện trường. Khi xuống xe ông vui vẻ nháy mắt nói vui: Hết việc. Bây giờ tôi trả lại đêm mùa xuân cho các bạn. Nàng bắt tôi đưa về nhà qua quãng đường tối, lại bảo tôi lên phòng liên hoan vì hôm đó chúng tôi vừa đổ xong mẻ bê-tông mặt đập cuối cùng. Hiền, bạn cùng phòng với nàng đã về Hà Nội từ chiều. Hôm nay thứ Bảy, Hiền theo xe Hải Âu tuyến “Công trình thủy điện - Hà Nội” về thăm bố mẹ, chiều Chủ nhật mới lên.

Rượu Vodka 3 ngôi sao, cá hộp Nga, kẹo súc-cù-là… lần lượt được bày ra, căn phòng cứ như thể niêu cơm Thạch Sanh đầy dần lên những thức ngon lành. Tôi biết các thứ này nàng mua trong cửa hàng chuyên gia. Mấy bà người Nga bán căng-tin ở đó đều biết nàng là phiên dịch của kỹ sư trưởng Timosenko.

Đêm hôm đó chắc chẳng phải do lỡ tay, nàng rót vodka ra những chiếc cốc thủy tinh Liên Xô nhiều hơn vạch khấc. Mỗi lần cụng ly nàng lại nghiêng đầu bảo “Thế nhé”, thì tôi lại gật đầu mà chẳng biết thế nhé là thế nào. Lại chẳng phải là người biết uống rượu nên tôi say đứ đừ. Nàng đỡ tôi lên giường của nàng. Trong trạng thái bồng bềnh, tôi thấy chiếc khăn mặt bông đã ngâm nước rất ấm lau mặt cho mình, rồi cả người tôi được phủ chườm bằng chiếc khăn nóng rực.

Chưa bao giờ tôi được nếm trải cảm giác dịu dàng như thế, trong suốt cả quãng đời sau này của mình. Tôi mơ màng thiếp đi ngay lập tức, còn nàng sang giường Hiền ngủ. Chúng tôi ngủ cùng phòng trong tình cảm đoàn viên thanh niên vô tư và trong sáng, như Rita tin cậy ôm Pavel ngủ trong cu-pê chuyến tàu hỏa về miền tiểu thuyết chúng ta từng đọc năm nào.

Một tối khác, làng chuyên gia chiếu bộ phim Teheran 43. Tôi và nàng có suất vé đương nhiên. Giai điệu da diết bản nhạc nền ca khúc “Une vie d'amour’” như cứa vào những trái tim như vừa biết chớm yêu. Phim vừa hết, chúng tôi trèo lên ngồi trên đỉnh đồi, nơi đặt bể nước cấp 2.000 m2, ngắm nhìn toàn cảnh làng chuyên gia và công trình thủy điện ở bên dưới. Những ô cửa sổ tầng cao ấm áp ánh đèn. Xa kia dưới ánh trăng, sông Đà lấp lánh trôi xuôi như một dòng thủy ngân đang tan chảy. Nàng lúc lắc mái đầu, những sợi tóc như một dòng sông đen khác, quấn vào ngôi sao trên quân hàm ve áo tôi. Giai điệu tình yêu từ bộ phim như vẫn đang thiết tha lẩn quất. Nàng hỏi mà như lời tuyên ngôn mặc định:

- Cứ yêu nhau tha thiết là sẽ phải chia ly mãi mãi à anh? Mình sẽ không như vậy. Thế nhé!

Tôi ngờ nghệch an ủi:

- Phim hư cấu mà em. Họ làm cho lâm ly để bán vé thôi.

Nàng nhìn tôi, nghiêng đầu tựa vào vai. Không gian lặng đi, có thể cảm thấy những giọt nước mắt ấm nóng đang thấm qua vai áo. Tôi ngồi cứng đơ như phỗng. Cảm giác hết sức bối rối và căng thẳng của một gã trai tân chưa từng va chạm với phụ nữ. Tôi đã biết hôn ai bao giờ đâu. Thấy người ta hôn nhau ở vườn hoa Bách thảo tôi còn ngoảnh mặt đi vì xấu hổ.

Bất chợt, nàng cầm lấy bàn tay tôi luồn vào trong ngực nàng. Tôi bỗng run rẩy, hơi thở dồn dập gấp gáp. Huyết áp nhịp tim, kể cả thân nhiệt như tăng vọt. Mồ hôi anh lính trẻ toát ra như tắm. Trái đất hình như cũng đang dừng quay dù con sông vẫn chảy. Một cảm giác nhẹ bẫng, không trọng lượng bềnh bồng, rơi mãi, rơi mãi vào vô cùng. Trí não nổ bùng một phát tựa cầu chì nổ tung khi đoản mạch. Tôi như hóa đá, toàn bộ cơ thể lạnh ngắt như người đã chết được mươi ngày, sợ hãi rụt phắt tay lại. Nàng thảng thốt kêu lên:

- Trời ơi. Anh bị cảm hay sao mà người lạnh toát thế này. Để em đưa anh đến trạm y tế.

Đến trạm xá Tổng bộ, thân thể anh lính vẫn còn run rẩy. Tôi được y sĩ trực cho uống nước gừng nóng không đường, thêm mấy viên thuốc cảm APC.

Đưa tôi về đến phòng, nàng bỏ về khu năm tầng của mình ngay dù đường đêm mất điện tối đen. Hai hôm sau bình tĩnh lại, tôi tìm cách gặp riêng để giãi bày chuyện tình cảm buổi tối hôm ấy, thì nàng không cho gặp.

Kỹ sư trưởng Timosenko hết kỳ hạn công tác về nước, nhường chỗ cho các kỹ sư lắp máy sang, cùng lúc tôi nhận quyết định về đơn vị mới. Tôi có hai ngày để làm các thủ tục bàn giao, tạm biệt sông Đà. Tôi sang Tổng bộ tìm đến phòng nàng, mong có một đêm đi bên nhau dưới trăng để nói hết lòng mình, nhưng ở đó chỉ gặp Hiền. Hiền nói nàng đã được điều về Hà Nội.

Tôi buồn bã trở về khu hai tầng. Giai điệu bài hát Tiếng gọi sông Đà văng vẳng qua hệ thống loa phóng thanh công trường, lẫn trong tiếng gió núi rì rào. “Sông Đà, sông Đà âm vang tiếng máy reo. Sông Đà, sông Đà ta đi xây ước mơ. Sông Đà, sông Đà ơi cho mùa xuân tiếng hát. Câu tình ca bát ngát con sông đang gọi ta…”.

Tôi kéo chăn, trở mình trên chiếc giường cũ. Ngoài cửa sổ trăng hạ tuần đang mọc, hắt bóng rặng xà cừ đổ dài trên ban-công. Những cây phượng, hoàng lan, dã hương chúng tôi trồng ở làng chuyên gia sông Đà ngày đó giờ hẳn đã thành cổ thụ. Nhưng mối tình vụng dại thời trai trẻ của tôi vẫn không chịu già. Nó vẫn đau đáu lớn lên cùng những đổi thay của đất nước, lớn lên và rạo rực trong cuộc đời riêng tôi.

Không biết giờ này em đang ở đâu?

Có thể bạn quan tâm

Sách cũ. Ảnh: NAM ANH

Tiệm sách cũ phố Cát Cụt

Hiệu sách cũ nằm ở phố Cát Cụt của Hải Phòng, nơi mà nếu người ta không để ý, sẽ dễ dàng đi ngang qua, chẳng hề hay biết mình vừa bỏ lỡ một thế giới khác.

Làng chài Sê San.

Sau cuộc rong ruổi của những người ly hương

Ngược dòng thời gian về những năm 2000, ngư dân nghèo vùng sông nước An Giang dắt díu nhau lên Tây Nguyên làm thuê. Trong những ngày tháng rong ruổi đầy gian truân ấy, họ vô tình tìm thấy lòng hồ thủy điện Sê San 4. Mặt nước mênh mông, tĩnh lặng như đánh thức bản năng sông nước của những người con sinh ra từ dòng sông Hậu.

Củi thông đun bếp.

Lửa thông

Gió từ núi đi ngang ngôi nhà ngai ngái mùi gỗ giữa những vườn rau mãn vụ.

Minh họa: HOÀNG NGUYÊN THẠCH

Mầm cây đợi

Con đường độc đạo từ bản đến trường ướt nhấm nhoét. Đất đá tở ra từng tảng, thi thoảng có những hộc đá lăn xuống chặn ngang đường. 

Sống đời phu cơm

Quốc Anh, 40 tuổi, mỗi sáng ra khỏi nhà cùng một chiếc điện thoại sạc đầy, một bình nước lọc, cái áo khoác bạc màu vì nắng, và chiếc hộp đựng đồ ăn vuông vức treo trước xe như hòm thuốc của một ông lang. Anh không chữa bệnh. Anh chữa đói. Mà đói ở phố bây giờ là thứ bệnh cấp tính, phát lên rất nhanh, đòi cấp cứu trong 15 phút.

Minh họa: ĐẶNG TIẾN

Drama mang tên thanh xuân

Hoan đến chỗ hẹn sớm 10 phút. Khoảng thời gian đó đủ để tâm trạng bình ổn. Bởi vì người hẹn cô hôm nay là anh. Người của một thời tha thiết. Người mà cô đã hơn 20 năm không gặp, thậm chí hoàn toàn bặt tin.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những ngã ba đời

Tôi tới căn nhà anh thuê ngay đầu phố Lý Nam Đế (Hà Nội) bởi một sự tình cờ. Ngồi lại lai rai vài ly cũng chẳng phải có hẹn mà nên. Nhưng tôi cứ nhớ mãi cái khung hình có dòng chữ mà một lãnh đạo của Đảng, Nhà nước viết tặng anh “ai cũng có rất nhiều chỗ để đi, nhưng chỉ có một chốn để trở về”.

Minh họa: NGUYỄN VÂN CHUNG

Những màu áo cũ

Nông thôn nơi Hân sống hãy còn rất nhiều người nghèo, cái ăn cái mặc, sự học hành con trẻ lắm khi quá sức với cha mẹ của chúng. Chưa kể nếu những bậc cha mẹ trẻ ấy còn sống chung gia đình lớn, còn cha mẹ già đau yếu bệnh tật thì đồng lương công nhân, làm thuê, cắt cỏ, xịt thuốc… sẽ không bao giờ đủ.

Nhớ phiên chợ Mộc

Nhớ phiên chợ Mộc

Ở xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc cũ (nay là phường Vinh Lộc, Nghệ An) quê tôi, cạnh gốc đa cổ thụ và cái nền đình xưa của làng là ngôi chợ mang tên chợ Mộc. Chợ Mộc làng tôi to lắm, “to” chứ không phải “lớn” đâu nhé.

Vá lưới. Ảnh: NAM NGUYỄN

Gió ở lại lòng người

Tôi đến Phú Hài, một làng chài ven biển của Phan Thiết, vào buổi sớm khi gió còn mềm. Biển khi ấy lặng, như vừa thức giấc sau một đêm dài. Không có những sắc màu rực rỡ hay ồn ào của một điểm đến du lịch, Phú Hài mở ra bằng nhịp sống chậm rãi, đủ để người mới ghé qua kịp nhận ra sự bình yên của làng.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Tình yêu của mẹ

Ở ngoại ô thành phố có một bà cụ đã mất. Chồng bà là một công nhân 70 tuổi đã nghỉ hưu. Cụ ông đến bưu điện để gửi sáu bức điện tín đến các vùng khác nhau của nước cộng hòa, tất cả đều có chung một nội dung: “Mẹ mất rồi các con về đi! Bố”.

Giàn mướp. Ảnh: SONG ANH

Nhớ mùa hoa mướp vàng

Khi cái nắng đầu hè rực lên ánh ỏi thì giàn mướp trước sân nhà tôi cũng nở hoa vàng rực. Từng đốm hoa thắp nắng giữa giàn lá xanh um, bầy ong dập dìu bay qua bay lại.

Thả lưới. Ảnh: SONG ANH

Mênh mang sông Đầm

Chiếc ghe đưa chúng tôi rời khỏi bến sông Đầm trong cái nắng đầu ngày. Chú Ba, người đồng hành cùng nhóm đã sống ở xứ này hơn sáu mươi năm.

Mưa dông. Ảnh: SONG ANH

Những cơn dông

Không hiểu sao, từ nhỏ đến giờ, tôi rất thích ngắm nhìn những cơn dông kéo đến trước mỗi trận mưa. Với tôi, đó là một khoảnh khắc kỳ diệu của thiên nhiên vũ trụ.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

3 triệu đồng

Gã trở nhà mới gần 10 giờ đêm. Trời oi nồng, vài hạt mưa lắc rắc càng làm tăng sức nóng. Trong con hẻm cụt không còn bóng người, gió yếu ớt chẳng rơi nổi chiếc lá, tưởng như màn đêm đã chìm sâu từ kiếp nào.

Dòng sông miền Tây. Ảnh: NAM NGUYỄN

Dòng sông không địa chỉ...

Trong hành trình rong ruổi của mình, có dòng sông tôi ghé lại chỉ để... thương một người. Với tôi, dòng sông Cái Lớn và chú Nguyễn Văn Lúa (cù lao Tắc Cậu, xã Châu Thành (Kiên Giang cũ), nay là An Giang) là một ký ức như thế.

Thú vui đàm đạo. Ảnh: SONG ANH

Người ở phố Hàng

Hà Nội ba sáu phố phường - khu vực các phố Hàng được coi là trung tâm kẻ chợ, nơi sầm uất, phát triển phong phú nhất của Hà thành, tạo nên nền tảng văn hóa, nhịp đập cho trái tim Thăng Long từ thuở những xa xôi lịch sử.

Chiếc máy ép mía chạy sức trâu của ông ngoại nằm yên sau nhiều năm không sử dụng.

Mùi mật mía năm xưa

Dưới mái hiên cũ kỹ của căn nhà ngoại, tôi vẫn thường ngồi lặng im, nhìn ra cánh đồng sau hè. Nơi ấy, cỏ voi, cỏ dại đã che khuất. Nhưng chỉ cần cơn gió nhẹ thổi qua làm lay động vạt cỏ xanh, tôi lại thấy thấp thoáng hai khối sắt sần sùi còn sót lại của chiếc máy ép mía ông ngoại từng dùng.

Người lao công. Ảnh: NAM NGUYỄN

Người dọn villa Tây

Chị Lê Thị Tịnh, ngụ làng rau Trà Quế (phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng) là một người làm nghề tạp vụ theo giờ cho những căn villa mà khách nước ngoài thuê ở phố Hội.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Vườn sau quán

Năm giờ sáng chợ đã tấp nập. Hằng kéo xe đẩy vào chỗ ngồi quen thuộc, gần cột điện, sát vỉa hè. Chị mở bao tải ra, từng bó đậu bắp xanh mướt xếp lên miếng bạt. Trái non, tươi, còn đọng sương. Hằng ngồi xuống chiếc ghế nhựa thấp, lưng còn mỏi từ hôm qua làm vườn. Ngón tay chai sần, đen nhẻm sau mấy tháng bới đất.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những người đàn bà Nậm Nghẹp

Trên bản Nậm Nghẹp (Sơn La), những ngày hoa sơn tra phủ trắng núi rừng, phía sân sau của nhà A Vạng, mấy người phụ nữ H'Mông đang đồ một chõ xôi lớn để chuẩn bị cho bữa tối.

Ảnh: HẢI ANH

Tiếng chim sẻ bên hiên nhà

Nhà tôi tiếng thuộc thị xã nhưng ở ngoài vành, tách biệt với ồn ào phố xá. Nguyên ngày xưa nhà mẹ đất quê nên chồng tôi - con trai út - ở nhà từ đường được sở hữu khu vườn khá rộng. Và tôi - con dâu của mẹ tha hồ hiện thực hóa giấc mơ đem thiên nhiên vào nhà.

Minh họa: VÕ LƯƠNG NHI

Giấc mơ huyền diệu

Mẹ lay người mấy lần nó mới tỉnh. Khuôn mặt nó vẫn còn phảng phất nụ cười rạng rỡ. “Con mơ thấy gì mà cười khoái chí thế hả?”, mẹ hỏi.

Quán trà nhỏ mùa hoa Hà Nội

Tháng ba, Hà Nội bỗng nhẹ tênh như vừa thức dậy sau giấc ngủ dài. Mùa xuân ở đây không ồn ào, cũng chẳng phô trương. Chỉ là một buổi sáng đi qua con phố quen, bỗng thấy những chùm hoa sưa trắng muốt như mây rơi xuống lòng đường.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Cây gạo mắc oan

Chiều buông. Lũ trẻ lùa trâu về nhà, qua cây gạo cổ thụ ụ rễ to sụ, ngoằn ngoèo như con trăn chúa gần cánh đồng hoang.

Ảnh: ANH QUÂN

Người của rừng

Mỗi lần bà tôi cho ra chợ phố chơi, mọi người thường chào hỏi bà tôi bằng câu: “Mới trong rừng ra hả?”.