Quán trà nhỏ mùa hoa Hà Nội

Tháng ba, Hà Nội bỗng nhẹ tênh như vừa thức dậy sau giấc ngủ dài. Mùa xuân ở đây không ồn ào, cũng chẳng phô trương. Chỉ là một buổi sáng đi qua con phố quen, bỗng thấy những chùm hoa sưa trắng muốt như mây rơi xuống lòng đường.

Xa xa, cây hoa gạo đỏ góc sân Trường Chu Văn An bùng lên như đốm lửa giữa nền trời xanh nhạt. Ở góc phố nào đó, những tán hoa ban tím dịu dàng như một lời chào của miền núi gửi về giữa lòng đô thị. Tôi gặp bà cụ bán trà đá ở góc phố Thụy Khuê vào một buổi sáng như thế.

Bà ngồi dưới gốc lộc vừng già, cái bàn nhựa thấp, vài chiếc ghế con xếp quanh. Cây lộc vừng đang vào mùa thay lá. Những chiếc lá vàng, lá đỏ rung nhẹ trong gió rồi rơi xuống vỉa hè, lẫn vào những cánh hoa sưa bay qua. “Uống cốc trà nóng cho ấm người đi cháu”, bà cụ nói khi thấy tôi mải ngắm những chùm hoa sưa.

Nước trà xanh bốc khói trong chiếc cốc thủy tinh quen thuộc của vỉa hè Hà Nội. Mùi trà ngai ngái, dịu nhẹ, hòa với mùi nắng sớm và hương hoa sưa. Bà bảo mình bán trà ở góc phố này đã gần ba mươi năm. “Ngày trước chỗ này vắng lắm. Sáng chỉ có mấy bác đạp xe tập thể dục. Giờ thì đông hơn rồi, nhưng cây vẫn thế”, bà nói, tay nhặt một chiếc lá lộc vừng vừa rơi xuống bàn.

Quán trà nhỏ của bà giống như một điểm dừng chân của con phố. Bác xe ôm công nghệ ghé vào nghỉ sau cuốc xe sớm. Cô nhân viên văn phòng tranh thủ uống vội cốc trà trước giờ làm. Mấy ông già trong khu phố sáng nào cũng ngồi một lúc để nói chuyện thời sự. Và đôi khi, có cả những người lạ như tôi.

Một buổi sáng nọ tôi ghé qua. Bà đang gói cẩn thận một chiếc bánh mì vào túi giấy. “Bà để cho ai thế ạ?”, tôi hỏi. Bà nhìn ra đầu phố rồi nói nhỏ: “Cho chú bán vé số ấy mà”. Lát sau từ đầu phố, một người đàn ông ngoài bốn mươi chống nạng chậm rãi bước lại. Một chân của ông teo nhỏ, bước đi khó nhọc. Trên tay, xấp vé số còn chưa bán hết, ông dừng lại, nở nụ cười hiền: “Cháu chào bà!”. Bà đưa chiếc bánh mì cho ông, giọng vừa nghiêm vừa ấm: “Ăn tạm đi rồi hãy đi tiếp, đừng nhịn đói”.

Người đàn ông nhận chiếc bánh mì, gật đầu cảm ơn. Ông đứng ăn vội vài miếng rồi lại chậm rãi chống nạng đi dọc con phố. Tôi hỏi bà có phải người quen của bà không. Bà lắc đầu: “Không phải. Nhưng nhìn chú ấy, bà lại nhớ cậu em út của mình”. Bà kể, em trai bà từng đi bộ đội những năm chiến tranh. Ngày trở về, cậu mang theo một vết thương ở chân. Từ đó bước đi cũng tập tễnh như thế, lúc nào cũng phải chống gậy. “Ngày trước nó hay sang đây ngồi với bà, cũng dưới gốc lộc vừng này thôi”, bà nói khẽ. Những buổi sáng rảnh rỗi, hai chị em ngồi uống trà, nhìn người qua lại trên phố. Cậu em ít nói, nhưng lúc nào cũng cười hiền. Có khi đang nói chuyện, cậu lại cúi xuống nhặt mấy chiếc lá lộc vừng rơi, xoay xoay trong tay như một thói quen. “Thương nhất là nó chẳng bao giờ than phiền gì cả”, bà chậm rãi nhớ lại. “Chân đau, đi lại khó, vậy mà lúc nào cũng bảo: "Còn sống trở về là may rồi chị ạ!”.

Rồi một thời gian sau, cậu em chuyển vào miền nam sống với con cháu. Từ đó hai chị em ít gặp nhau hơn. Nhưng mỗi lần thấy ai chống nạng hay bước đi tập tễnh trên phố, bà lại nhớ đến cậu.

“Thấy người ta vất vả, bà lại nghĩ nếu em mình ở đây chắc cũng vậy thôi”, bà nói. Có lẽ vì thế mà bà thường để dành chiếc bánh mì, khi thì quả chuối, khi thì cốc trà nóng cho những người kém may mắn đi ngang qua góc phố nhỏ này. “Cho họ ăn chút cho đỡ đói thôi mà!”. Bà nói câu đó rất nhẹ, như thể đó chỉ là một việc rất bình thường. Bà chậm rãi nói thêm, như thể đang nghĩ thành lời: “Có khi chỉ cần một người đối xử tử tế với mình một lần thôi, người ta cũng nhớ mãi. Rồi biết đâu, họ lại tử tế với người khác”.

Tôi nhìn theo dáng người đàn ông chống nạng vừa khuất cuối phố. Bỗng thấy câu nói của bà có gì đó rất đúng. Trong cuộc sống đô thị đông đúc này, có lẽ điều khiến con người bớt thấy lẻ loi đôi khi chỉ là một cử chỉ quan tâm rất nhỏ. Và lòng tốt cũng giống như những cánh hoa sưa tháng ba. Nhỏ bé thôi, nhưng khi rơi xuống lòng phố lại khiến cả con đường dịu lại.

Có thể bạn quan tâm

Hai người cán bộ an ninh

Chúng tôi gặp nhau trong một sự tình cờ. Tôi ngồi với bạn. Anh Ngô Đức Lý cùng đồng đội ăn bữa cơm liên hoan tầng trên. Ở cùng một nơi. Gặp nhau, và dần trở thành thương mến.

Người đàn bà quét ngõ

Mỗi buổi sáng, trước khi phố kịp tỉnh hẳn, dưới chân tòa nhà tôi ở đã có tiếng chổi quét đều đều. Tiếng chổi ấy nghe nhỏ thôi, nhưng hình như đang giữ lại chút thể diện cuối cùng cho con ngõ.

Phía ngoài cánh cổng trường thi

Sáng cuối cùng của kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10, Hà Nội đã nắng từ rất sớm. Trước một điểm thi ở phường Cầu Giấy, một người mẹ kéo chiếc ghế nhựa vào sát gốc cây rồi ngồi xuống. Con trai chị vừa bước qua cổng trường ít phút trước.

Minh họa: TÙNG NGUYỄN

Tạm biệt Chân Mây

Mây sà rất thấp. Buổi sáng ở ga thường thế. Từ phía Chân Mây, những dải mây trắng bò qua sườn núi, tràn khắp đường ray, phủ lên mái ga bàng bạc. Nhiều hôm, Phước đứng ngoài sân, chỉ còn thấy lờ mờ ánh đèn tín hiệu phía trước, đoàn tàu hiện ra chậm chạp như cũng đến từ cõi mây.

Ảnh: ANH QUÂN

Mùi báo giấy còn vương

Hồi tờ Tuổi trẻ thông báo ra số Cuối tuần cuối cùng để chuyển sang mô hình Tuổi trẻ cuối tháng, tôi hơi khựng lại, như thể có một thứ vốn quen thuộc, từng nằm yên trong nhịp sống suốt rất nhiều năm bỗng cũng bị cuốn vào sự dịch chuyển của thời cuộc, của cách con người đọc tin tức…

Ảnh: SONG ANH

Một quãng đê hoa vàng, cỏ xanh

Quãng đê nào cũng hấp dẫn, và quãng đê dẫn lên đầu cầu Đuống thật sự khác biệt. Bất thình lình, một triền đê hoa vàng, cỏ xanh mở ra mênh mang. Không dài nhưng đủ để gieo vào lòng lữ khách một chút bồi hồi, man mác. Một cảm xúc rất Pau (Paustovsky - nhà văn Nga)!

Sau hơn 10 năm hoạt động, nhà sách cuối cùng trong hệ thống Cá Chép phải nói lời tạm biệt Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng lặng giữa phố

Ly trà đặt nhẹ trên bàn, chưa kịp phả hơi lạnh vào lòng tay khách, giọng của nữ quản lý đã nhuốm màu buồn bã: “Hôm nay ngồi thật lâu nha! Hai ngày nữa thôi, quán phải ngưng, thay đổi mô hình”. Tiếng thở dài thật khẽ, đủ để khách và quản lý quán cùng vấn vương, không làm phiền những người còn lại.

Sách cũ. Ảnh: NAM ANH

Tiệm sách cũ phố Cát Cụt

Hiệu sách cũ nằm ở phố Cát Cụt của Hải Phòng, nơi mà nếu người ta không để ý, sẽ dễ dàng đi ngang qua, chẳng hề hay biết mình vừa bỏ lỡ một thế giới khác.

Làng chài Sê San.

Sau cuộc rong ruổi của những người ly hương

Ngược dòng thời gian về những năm 2000, ngư dân nghèo vùng sông nước An Giang dắt díu nhau lên Tây Nguyên làm thuê. Trong những ngày tháng rong ruổi đầy gian truân ấy, họ vô tình tìm thấy lòng hồ thủy điện Sê San 4. Mặt nước mênh mông, tĩnh lặng như đánh thức bản năng sông nước của những người con sinh ra từ dòng sông Hậu.

Củi thông đun bếp.

Lửa thông

Gió từ núi đi ngang ngôi nhà ngai ngái mùi gỗ giữa những vườn rau mãn vụ.

Minh họa: HOÀNG NGUYÊN THẠCH

Mầm cây đợi

Con đường độc đạo từ bản đến trường ướt nhấm nhoét. Đất đá tở ra từng tảng, thi thoảng có những hộc đá lăn xuống chặn ngang đường. 

Sống đời phu cơm

Quốc Anh, 40 tuổi, mỗi sáng ra khỏi nhà cùng một chiếc điện thoại sạc đầy, một bình nước lọc, cái áo khoác bạc màu vì nắng, và chiếc hộp đựng đồ ăn vuông vức treo trước xe như hòm thuốc của một ông lang. Anh không chữa bệnh. Anh chữa đói. Mà đói ở phố bây giờ là thứ bệnh cấp tính, phát lên rất nhanh, đòi cấp cứu trong 15 phút.

Minh họa: ĐẶNG TIẾN

Drama mang tên thanh xuân

Hoan đến chỗ hẹn sớm 10 phút. Khoảng thời gian đó đủ để tâm trạng bình ổn. Bởi vì người hẹn cô hôm nay là anh. Người của một thời tha thiết. Người mà cô đã hơn 20 năm không gặp, thậm chí hoàn toàn bặt tin.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những ngã ba đời

Tôi tới căn nhà anh thuê ngay đầu phố Lý Nam Đế (Hà Nội) bởi một sự tình cờ. Ngồi lại lai rai vài ly cũng chẳng phải có hẹn mà nên. Nhưng tôi cứ nhớ mãi cái khung hình có dòng chữ mà một lãnh đạo của Đảng, Nhà nước viết tặng anh “ai cũng có rất nhiều chỗ để đi, nhưng chỉ có một chốn để trở về”.

Minh họa: NGUYỄN VÂN CHUNG

Những màu áo cũ

Nông thôn nơi Hân sống hãy còn rất nhiều người nghèo, cái ăn cái mặc, sự học hành con trẻ lắm khi quá sức với cha mẹ của chúng. Chưa kể nếu những bậc cha mẹ trẻ ấy còn sống chung gia đình lớn, còn cha mẹ già đau yếu bệnh tật thì đồng lương công nhân, làm thuê, cắt cỏ, xịt thuốc… sẽ không bao giờ đủ.

Nhớ phiên chợ Mộc

Nhớ phiên chợ Mộc

Ở xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc cũ (nay là phường Vinh Lộc, Nghệ An) quê tôi, cạnh gốc đa cổ thụ và cái nền đình xưa của làng là ngôi chợ mang tên chợ Mộc. Chợ Mộc làng tôi to lắm, “to” chứ không phải “lớn” đâu nhé.

Vá lưới. Ảnh: NAM NGUYỄN

Gió ở lại lòng người

Tôi đến Phú Hài, một làng chài ven biển của Phan Thiết, vào buổi sớm khi gió còn mềm. Biển khi ấy lặng, như vừa thức giấc sau một đêm dài. Không có những sắc màu rực rỡ hay ồn ào của một điểm đến du lịch, Phú Hài mở ra bằng nhịp sống chậm rãi, đủ để người mới ghé qua kịp nhận ra sự bình yên của làng.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Tình yêu của mẹ

Ở ngoại ô thành phố có một bà cụ đã mất. Chồng bà là một công nhân 70 tuổi đã nghỉ hưu. Cụ ông đến bưu điện để gửi sáu bức điện tín đến các vùng khác nhau của nước cộng hòa, tất cả đều có chung một nội dung: “Mẹ mất rồi các con về đi! Bố”.