Dòng sông không địa chỉ...

Trong hành trình rong ruổi của mình, có dòng sông tôi ghé lại chỉ để... thương một người. Với tôi, dòng sông Cái Lớn và chú Nguyễn Văn Lúa (cù lao Tắc Cậu, xã Châu Thành (Kiên Giang cũ), nay là An Giang) là một ký ức như thế.

Dòng sông miền Tây. Ảnh: NAM NGUYỄN
Dòng sông miền Tây. Ảnh: NAM NGUYỄN

Lần đầu tôi gặp chú Lúa, mà bà con trên sông vẫn gọi bằng cái tên rặt mùi lúa gạo: Chín Lúa, vào một mùa nước nổi. Nhà chú, một căn nhà nổi được kết lại từ những thùng phi nhựa cũ. Kiểu kiến trúc của sự thích nghi: Nước dâng tới đâu, nhà cao theo tới đó.

Tôi nhớ mãi dáng vẻ bình thản của chú Chín khi ngồi giữa sàn nhà gỗ, bưng chén cơm trắng ăn cùng cá kho tộ, mặc cho ngoài kia dòng nước đỏ ngầu phù sa đang cuồn cuộn chảy. Chú cười khà khà, nói: “Ở đây, lũ là bạn, chứ có phải giặc đâu mà sợ. Nó nâng mình lên, thì mình cứ việc ngồi trên đầu nó mà ăn cơm thôi con!”.

Cái “làng nổi” trên sông Cái Lớn ấy lạ lùng lắm. Hầu hết gia đình nào cũng có nhà, có đất đai trù phú trong xóm. Nhưng lạ thay, họ cho thuê sạch đất đai ấy, rồi kéo nhau ra sông dựng bè, nuôi cá lồng. Họ chọn cuộc sống lênh đênh vì đó là cái nghiệp, là cái thú vui của người sông nước. Đêm đêm, dòng sông Cái Lớn không hề tĩnh lặng. Từ những chiếc lồng bè, tiếng loa kẹo kéo vang lên, những bản bolero nức nở, mùi mẫn hòa cùng tiếng sóng vỗ mạn thuyền. Ở đó, karaoke không chỉ là giải trí, nó là cách người ta tâm tình với dòng sông.

Hồi đó, ngồi chuyện cùng chú Chín nhìn ra màn đêm mênh mông, chú tặc lưỡi: “Mày thấy không, đây là dòng sông không địa chỉ. Nhà chú cũng không số, không đường. Ở đây, ai cũng biết nhau. Người xa tới thì được bà con cho nhận dạng là nhà có chậu bông nhựa, nhà có con chó đốm... Vậy đó”.

Câu nói ấy theo tôi suốt một thời gian dài. Một cuộc đời không số nhà, không tên đường, chỉ có kinh độ và vĩ độ của lòng người. Cảm hứng ấy khiến tôi viết nên bài hát “Dòng sông không địa chỉ”. Khi bản nhạc hoàn thành, tôi nhờ AI hòa giọng. Một giọng nam trầm buồn, nức nở đúng chất bolero miền Tây. Tôi gửi bản thu ấy cho chú Lúa. Tôi cứ ngỡ chú sẽ thích cái vẻ lãng mạn, phong trần của một dòng sông không địa chỉ mà tôi đã vẽ nên. Nhưng câu trả lời của chú Chín Lúa làm tôi ngẩn người, rồi vỡ lẽ ra bao điều. Chú gọi lại, giọng vẫn hào sảng nhưng đầy thực tế: “Bài hát hay lắm, mùi lắm con ơi! Nhưng mà nghe này, con phải viết tiếp bài nữa đi. Bây giờ dòng sông này có địa chỉ rồi, không thể “không địa chỉ” như xưa nữa”.

Chú kể, bây giờ chú và bà con xóm nổi đã dùng smartphone nhoay nhoáy. Chú dùng mạng xã hội để cập nhật giá cá, để xem thời tiết, để gọi video cho mấy đứa cháu đang học tận Cần Thơ, Sài Gòn. Và quan trọng nhất, chú bảo: “Phải có địa chỉ, có số nhà rõ ràng thì chú mới làm được căn cước công dân gắn chip chứ! Có căn cước, có định danh thì mình mới là công dân đàng hoàng, mới dùng được cái smartphone này cho hết công năng của nó. Thời đại bây giờ, đến con cá dưới bè cũng cần “khai sinh”, huống hồ là con người”.

Qua trò chuyện, tôi hình dung chú Lúa khác xưa. Vẫn là nụ cười hiền hậu đó, nhưng chú không còn là người đàn ông mặc kệ sự đời trên chiếc bè không số.

Cuộc sống không dừng lại ở những câu thơ lãng mạn hay những bản bolero buồn bã. Cuộc sống cần một cái tên, một địa chỉ để kết nối và tiến về phía trước. Tôi nợ chú Chín một bài hát mới. Bài hát về một dòng sông đã có tên, về những ngôi nhà nổi không còn lẩn khuất, mà hiện lên rõ ràng, tự tin trên bản đồ số của đất nước.

Có thể bạn quan tâm

Thú vui đàm đạo. Ảnh: SONG ANH

Người ở phố Hàng

Hà Nội ba sáu phố phường - khu vực các phố Hàng được coi là trung tâm kẻ chợ, nơi sầm uất, phát triển phong phú nhất của Hà thành, tạo nên nền tảng văn hóa, nhịp đập cho trái tim Thăng Long từ thuở những xa xôi lịch sử.

Chiếc máy ép mía chạy sức trâu của ông ngoại nằm yên sau nhiều năm không sử dụng.

Mùi mật mía năm xưa

Dưới mái hiên cũ kỹ của căn nhà ngoại, tôi vẫn thường ngồi lặng im, nhìn ra cánh đồng sau hè. Nơi ấy, cỏ voi, cỏ dại đã che khuất. Nhưng chỉ cần cơn gió nhẹ thổi qua làm lay động vạt cỏ xanh, tôi lại thấy thấp thoáng hai khối sắt sần sùi còn sót lại của chiếc máy ép mía ông ngoại từng dùng.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

Nỗi nhớ sông Đà

Tháng ba dương lịch năm con Ngựa. Mùa xuân đang chín ửng. Ban ngày nhiệt kế chỉ 25 nhưng đêm tụt xuống 17 độ, vẫn đủ lạnh với một cựu sĩ quan già, là chính tôi.

Người lao công. Ảnh: NAM NGUYỄN

Người dọn villa Tây

Chị Lê Thị Tịnh, ngụ làng rau Trà Quế (phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng) là một người làm nghề tạp vụ theo giờ cho những căn villa mà khách nước ngoài thuê ở phố Hội.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Vườn sau quán

Năm giờ sáng chợ đã tấp nập. Hằng kéo xe đẩy vào chỗ ngồi quen thuộc, gần cột điện, sát vỉa hè. Chị mở bao tải ra, từng bó đậu bắp xanh mướt xếp lên miếng bạt. Trái non, tươi, còn đọng sương. Hằng ngồi xuống chiếc ghế nhựa thấp, lưng còn mỏi từ hôm qua làm vườn. Ngón tay chai sần, đen nhẻm sau mấy tháng bới đất.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những người đàn bà Nậm Nghẹp

Trên bản Nậm Nghẹp (Sơn La), những ngày hoa sơn tra phủ trắng núi rừng, phía sân sau của nhà A Vạng, mấy người phụ nữ H'Mông đang đồ một chõ xôi lớn để chuẩn bị cho bữa tối.

Ảnh: HẢI ANH

Tiếng chim sẻ bên hiên nhà

Nhà tôi tiếng thuộc thị xã nhưng ở ngoài vành, tách biệt với ồn ào phố xá. Nguyên ngày xưa nhà mẹ đất quê nên chồng tôi - con trai út - ở nhà từ đường được sở hữu khu vườn khá rộng. Và tôi - con dâu của mẹ tha hồ hiện thực hóa giấc mơ đem thiên nhiên vào nhà.

Minh họa: VÕ LƯƠNG NHI

Giấc mơ huyền diệu

Mẹ lay người mấy lần nó mới tỉnh. Khuôn mặt nó vẫn còn phảng phất nụ cười rạng rỡ. “Con mơ thấy gì mà cười khoái chí thế hả?”, mẹ hỏi.

Quán trà nhỏ mùa hoa Hà Nội

Tháng ba, Hà Nội bỗng nhẹ tênh như vừa thức dậy sau giấc ngủ dài. Mùa xuân ở đây không ồn ào, cũng chẳng phô trương. Chỉ là một buổi sáng đi qua con phố quen, bỗng thấy những chùm hoa sưa trắng muốt như mây rơi xuống lòng đường.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Cây gạo mắc oan

Chiều buông. Lũ trẻ lùa trâu về nhà, qua cây gạo cổ thụ ụ rễ to sụ, ngoằn ngoèo như con trăn chúa gần cánh đồng hoang.

Ảnh: ANH QUÂN

Người của rừng

Mỗi lần bà tôi cho ra chợ phố chơi, mọi người thường chào hỏi bà tôi bằng câu: “Mới trong rừng ra hả?”.

Người không đi cùng hôm đó

Tôi đứng trước một nấm mộ nhỏ, bó hoa ly trắng khẽ đung đưa theo gió, mùi hương thoảng. Những đám mây thả nhẹ trên nền trời trong.

Nhớ. Ảnh: NAM NGUYỄN

Vọng cố hương

Ngày nào trong tuần ông cũng ở nhà một mình, như đứa trẻ được con cháu dặn dò đủ thứ cần lưu ý, nhưng tâm trí của ông cứ nhớ nhớ quên quên, vì nay ông đã ngoài tám mươi.

Minh họa: NGUYỄN NGHĨA CƯƠNG

Gió phai màu tóc

Bây giờ người ta thấy chú thím Sáu tôi tóc hai màu mà vẫn ríu rít bên nhau thì bảo là sến quá. Gì mà ông chồng phải nhổ tóc sâu cho vợ? Nắng gió đã phai hết màu nước đen óng ả mà sao thím cứ sến súa thả mái tóc muối nhiều hơn tiêu cho chồng chải giúp thật sến súa quá đi.

Đèo Đá Trắng. Ảnh: NAM HẢI

Trên đèo Đá Trắng

Chiếc xe bán tải đỗ xịch lại ngay cạnh cái lán được dựng bên khúc cua trên đèo Đá Trắng. Xe được dán chằng chịt những logo khá “hầm hố”. Cả cánh cửa bên hông được trang trí hình ảnh của một thổ dân da đỏ với những chiếc lông chim gắn ở trên đầu, cho thấy chủ nhân của chiếc xe có vẻ là những “tay chơi” thứ thiệt.

Ảnh: HẢI ANH

Thăm nhà cũ ngày xuân nắng nhạt

T rong vùng ký ức xưa cũ nhất của tôi là hình ảnh chập chờn một đứa trẻ lên ba, lên bốn, ngồi trên chiếc giường đặt tạm giữa sân.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Bóng trăng

Ngày nhiều gió, Hoàng chở cây hoàng yến sau xe máy, gạt chống xe rồi mở khóa cổng vào nhà. Anh loay hoay trồng cây hoàng yến, nhắm hướng cho vừa tầm với góc nhìn của My từ ô cửa sổ trên căn gác.

Chung tay làm bánh của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: BẮC SƠN

“Nón lắp bo mi xẩu quyệt”

Trong tiếng Thái vùng núi Thanh Hóa, có một câu nói ví von đầy ý nhị nhưng cũng thật trần trụi về nhu cầu cơ bản của con người: "Kin khẩu bo mi kẻng cắp/Nón lắp bo mi xẩu quyệt". Dịch ra tiếng Kinh, nghĩa là: “Ăn cơm không có canh khác gì đi ngủ không có người ôm”.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Tin vào cánh đào xuân

Đầu giờ chiều, trên bãi đất trống ở trụ sở xã Yên Sơn đã đầy xe máy, xe đạp. Bụi đất đỏ vồng lên thành luồng theo một chiếc xe máy đi từ đường lớn vào sân.

Hát ru. Ảnh: NAM NGUYỄN

Mùa ca dao đã mất

“À ơi... Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay...”, phải chăng ký ức của mỗi người vẫn đang cất giữ những lời ru ầu ơ, vẫn như đang nghe thấy tiếng võng đưa kẽo kẹt…

Ảnh: HẢI ANH

Chợ gốc đa, những sớm mai ở lại

Sáng nào thức dậy sớm, tôi cũng đi bộ về phía gốc đa già nằm giữa đình Quán La và chùa Khai Nguyên (nay thuộc phường Xuân Đỉnh, Hà Nội). Cái chợ nhỏ ấy, họp chẳng cần biển hiệu, cũng không cần mái che, người dân quen gọi là chợ gốc đa.

Ảnh: NGUYỄN NAM

Hết Tết, lại nhớ khói chiều cuối năm

Những chiều cuối năm ấy luôn đến chầm chậm, không báo trước, chỉ bằng lớp nắng mỏng tang trên mái ngói và tiếng chổi quét sân nghe rõ từng nhịp. Chạm đến chiều ba mươi, trong tôi lại dâng lên một cảm giác vừa hồi hộp, vừa bình yên như làn khói mỏng bay từ gian bếp.

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày bé, có lần tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, vườn nhà mình rộng thế, sao mẹ không trồng lấy một khóm hoa”. Mẹ tôi ngần ngừ rồi bảo: “Mẹ không biết nữa, mẹ chỉ muốn trồng gì đó để cả nhà được ăn no”.

Tát ao ăn Tết

Tát ao ăn Tết

Cứ đến khoảng 20 tháng Chạp, các xóm trong làng bắt đầu rủ nhau tát ao lấy cá ăn Tết.

Bên dòng Oka của Yesenin

Bên dòng Oka của Yesenin

Trong hình dung của tôi, không thể ở tận thế kỷ 21 mà trên đời vẫn còn tồn tại một ngôi làng cũ xưa như Konstantinovo. Thế mà có thật. Nó xưa cũ thật sự và vì xưa cũ, cảm giác như trong những cơn gió lạnh vẫn thấy bóng Sergey Yesenin chạy trên những lối mòn.