Hai cuộc gọi nhỡ và một giấc mơ

Tôi nằm oạch xuống sàn sau khi cố định cái máy quạt để nó quạt vào người chứ không quay qua quay lại nữa.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC
Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Tháng tư rồi, nắng như rán mỡ. Tấm thảm lót nằm mấy bữa trời lạnh tôi quấn lại để ở góc phòng cũng phải tháng hơn rồi. Mùi lắm mà máy giặt đang hư và tiền thì kẹt nên chắc khi nào bác Hai bắn về mẹ mới tính được. Nóng và oải quá nên ráng nằm một chút chứ không ngủ nổi. Gác lửng nên mái tôn cách chỗ nằm có một đoạn, ngoài trời 37°C là trong này như cái lò bát quái. Dưới gác, ba mẹ tôi cũng chẳng ngủ nổi, hai ông bà lại nói chuyện nhà cửa và càm ràm qua lại vì cuộc gọi nhỡ của bác Hai. Ngày nào giờ ấy bác cũng gọi, trưa bên mình là khuya bên Mỹ, rành quá rồi thế mà để bác gọi nhỡ, không biết đường mà mở chuông điện thoại lên chờ, mẹ ràm tới ràm lui. Đã nóng rồi mà còn giở giọng trách móc, ba quật lại mẹ ngay. Ông tắt chuông điện thoại là vì hồi sáng có người gọi nhắc tiền lãi mà nhây quá, gọi đi gọi lại muốn cháy máy người ta. Bình thường ba mẹ tôi luôn sốt sắng mỗi khi bác Hai gọi, chưa bao giờ để nhỡ một cuộc gọi nào.

Bầu không khí đang căng thì đột nhiên mẹ đổi đề tài lái sang chuyện nhà cửa, thế là ba dịu lại ngay. Đúng chuyện hai người thích nói nhất và nói hoài mấy năm rồi không chán nên ba phải dịu thôi. Sẽ đập bỏ hết cái nhà này rồi nâng nền lên xây một căn hai tấm, làm hết diện tích đất luôn không chừa sân như bây giờ nữa thì mới đủ để có ba phòng ngủ. Một cho tôi, một cho ba mẹ tôi và một phòng nữa cho bác Hai. Khi nào bác về Việt Nam thì ở. Tính tính vậy từ mùa hè tôi thi đại học mà giờ tôi chỉ còn một kỳ đồ án nữa thôi là tốt nghiệp. Đợt đó bác Hai về Việt Nam ở thăm chơi hơn nửa tháng, tình hình nhà tôi xuống cấp thế nào thì trước đó ba tôi đã rỉ ri trình bày cả rồi nhưng phải đến khi bác về ở chơi ba mới ri rỉ thành công. Lời hứa của bác Hai là đinh đóng cột, chỉ việc chờ thôi.

Bác Hai đi Mỹ từ hồi tôi mới đẻ, xa nửa vòng Trái đất nhưng bác là người biết rõ mọi thứ về tôi nhất, chỉ sau ba mẹ tôi. Ông bà nội mất cũng lâu rồi còn cô Ba lấy chồng tỉnh khác hầu như chẳng bao giờ thăm hỏi gì nhau ngoài mấy dịp Tết. Bác Hai cũng có vợ và có một đứa con gái nhưng hai vợ chồng ly hôn, tôi chưa gặp người chị em này lần nào, nghe kể là lấy chồng Tây. Bên ấy người ta hiện đại, con cái chẳng ở chung với cha mẹ, nghe nói con bác ở thành phố nào đó xa lắm, cha con cả chục năm gặp nhau có vài lần, tôi nghĩ con bác chắc cũng chẳng biết mình có đứa em họ là tôi. Bác cũng có thêm nhiều phụ nữ khác nhưng mà kiểu vui thì ở buồn thì đi.

Mẹ tôi thường nói bác Hai giờ chỉ có ba tôi là thân ruột nhất, cô Ba lấy chồng thì theo chồng rồi nên không tính. Sau ba là đến tôi, dù không phải con nhưng là cháu ruột, cùng dòng giống máu mủ. Chuyện ăn ngủ học hành của tôi từ nhỏ đến lớn bác tôi nắm hết, Mỹ và Việt Nam, nửa vòng trái đất mà nào có xa chỉ như cách một cái hàng rào, ngày ngày bác tôi gọi về nghe ba tôi tường thuật có khác gì đứng bên kia hàng rào nhìn qua đâu nhỉ. Thậm chí nhiều khi tôi thấy bác Hai như đang sống cùng chúng tôi luôn ấy, là một thành viên của gia đình chứ không phải kiểu như cô Ba. Thế nên bác lo chuyện nhà cửa cho chúng tôi là đương nhiên và hết sức bình thường, nhỉ?

Xưa giờ tiền ăn học của tôi đều là bác cho, cả mấy khoản nợ nần của nhà tôi nữa, thường thì tháng nào bác cũng bắn về cho một ít nhưng đập đi xây lại cái nhà là chuyện quá lớn, số tiền khủng nên ba mẹ tôi mới dài cổ ngóng. Sắp ô-kê rồi, đợi bác nhận thêm vài khoản gì đó nữa là làm được vô tư, quan trọng là phải tính cho kỹ, tính làm cho thằng Bi nó cưới vợ luôn. Từ bữa bác Hai nói vậy, không khí trong nhà tôi khác hẳn. Ba tôi thuộc lòng giá vật liệu, ngày nào cũng nói chuyện công thợ công thầy, khoản này khoản nọ còn mẹ tôi thì lo phong thủy bếp đặt hướng nào, tường sơn màu gì cho hợp mệnh… Nhà trên đất chưa xây chứ nhà trên miệng thì xây mấy chục căn rồi luôn ấy chứ. Chúng tôi đang hồi hộp, không biết khi nào thì bác gửi về, biết đâu cuộc gọi nhỡ lúc nãy là bác gọi để thông báo chuyện hệ trọng đó. Có thể lắm, vì bác nói sắp rồi, cuối tháng này bác được nhận một khoản tiền lớn mà hôm nay đúng là ngày cuối tháng thật. Mẹ tôi nói bà linh tính cuộc gọi nhỡ lúc nãy không phải kiểu gọi chơi như mọi khi, linh tính của phụ nữ chỉ có đúng trở lên.

Tôi nằm nghe nói chuyện mà muốn sốt ruột theo. Tiền của bác có bao nhiêu, khi nào thì gửi được? Có lần tôi thắc mắc với mẹ sao ba không hỏi bác luôn, khoảng khi nào gửi và gửi bao nhiêu, mấy chục ngàn, không có một con số cụ thể thì ít nhất cũng có một cái khoảng nào đó chứ. Tôi nói xong thì mẹ lườm cho một phát, thiệt thà là cha dại, hỏi thế rồi bác nghĩ nhà mình chỉ biết tiền tiền tiền, xa hơn thì sẽ nghĩ nhà mình lợi dụng bác, đào mỏ bác, không chừng bác nghĩ lại rồi chẳng gửi cho đồng nào thì có mà chết. Không hỏi không động gì tới chuyện đó cả, phải làm như mình quan tâm bác chứ không phải tiền của bác. Đà đà thôi, không được nói rõ ra cái gì cả.

Không được nói rõ ra cái gì cả nên mới hồi hộp y như dò vé số mà cái vé trên tay có số đang khớp với giải độc đắc. Ba mẹ tôi mua vé số mỗi ngày, biết đâu được, đời mà, nên ba tôi cứ túc tắc túc tắc cho qua ngày, mua vé số và chờ bác gọi. Ông cũng có đi làm, làm thợ đụng, đụng đâu làm đó nhưng mẹ tôi lúc nào cũng nói đừng có làm chi hết có khi còn tốt hơn vì cái tính lèm bèm của ba, kiếm được một đồng thì nhậu hết hai đồng. Ngày nào cũng thế, nói một chặp là mẹ bắt đầu trách ba, chỉ tại ông không chuẩn, tiền vô tay là bay lúc nào không biết nên bác Hai mới phải cẩn thận… Tôi cố gắng tưởng tượng tiếp về căn phòng có điều hòa mát lạnh để chợp mắt giữa lời qua tiếng lại của hai vị phụ huynh. Ôi chao, cái bài ca này nghe mãi muốn bệnh luôn.

*

Tân gia.

Phải mấy chục mâm. Hàng xóm, bạn bè, khách khứa… Từng mâm từng mâm lướt qua tôi. Rồi tôi thấy mình nằm trong phòng, cái điều hòa phả ra hơi mát tận tim óc. Bỗng, trần nhà xoay xoay…

Rì…rì…rì…

Âm thanh điện thoại rung làm tôi choàng tỉnh. Tôi chộp lấy cái điện thoại đang để bên người. Không có cuộc gọi gì cả.

“A lô…”

Thì ra là điện thoại của ba. Òa, chỉ là một giấc mơ, tôi vẫn ở trong cái lò bát quái chứ chẳng có tân gia tân diếc gì cả và dưới kia ba tôi đang nghe điện thoại, cái máy quạt chạy rù rù làm ba phải nói to.

“Sao?... Anh nói sao?...”.

“Hả? Rồi anh tôi… sao rồi ạ?”.

“A lô, anh…”.

Tôi xuống gác ngay. Mẹ tôi đang đứng sát bên nghe ké.

Mẹ tôi ngồi rũ xuống khi cuộc gọi kết thúc. Ba tôi thì trơ như tượng. Tôi cũng ngồi phạch xuống nền. Bác Hai bị đột quỵ, may mà cấp cứu kịp chứ không thì đã… Tin tốt là bác tỉnh rồi và vẫn nhớ là mình có người em trai ở Việt Nam. Cuộc gọi nhỡ hồi trưa đúng như linh tính của mẹ, không phải gọi chơi như bình thường mà là gọi có chuyện quan trọng. Nhưng, cái chuyện quan trọng này thì nhà tôi hoàn toàn không mong muốn.

“Bác ấy nói sao rồi?”, mẹ tôi hỏi với giọng não nề.

“Thì nghe nãy giờ biết rồi, hỏi gì nữa”.

“Ơ kìa, thì giờ rốt cuộc là sao? Cái chuyện nói về Việt Nam ấy, là sao?”.

“Thì như thế thì phải về thôi sao sao gì nữa…”.

Ba tôi đứng phắt dậy, nổi cáu lên. Bác sĩ nói phải tập phục hồi chức năng, phải kiên trì mà trước mắt là phải có người chăm sóc chứ bác Hai giờ ăn thì phải đút, đi vệ sinh thì phải dìu, nói thì tiếng được tiếng mất có khác gì đứa con nít đâu. Người chăm sóc, ai được nào? Hoặc là người nhà hoặc là phải mướn. Ở bên đó mướn mà chịu nổi tiền à?

“Thế bác ấy định về đây thuê mình chăm sóc đó à? Tháng bao nhiêu, nhỉ?”.

“Nói cái gì thế? Mình là người nhà mà”.

“Là sao? Là về ở với nhà mình á hả?”.

“Thì chẳng phải lúc nào mình cũng nói bác về ở với nhà mình…”.

“Mấy lúc đó là khác…”.

“Ai chẳng biết là khác”, ba tôi gắt, “mệt rồi, giải tán đi, để nằm yên tí, đã nóng muốn chết còn hỏi hỏi”.

Ba tôi xoay cái quạt về phía giường rồi nằm xuống.

“Chuyện xui xẻo gì không. Thế còn cái tiền ấy, tiền cho mình làm nhà ấy, giờ sao?”.

Thấy ba tôi không nói, mẹ tôi ngồi lấn vào giường.

“Rút cuộc là có hay không? Không lẽ toàn hứa lèo”.

“Ai mà biết! Chẳng lẽ hỏi! Mà giờ có hỏi cũng thế thôi. Nói chung là không xong rồi. Chắc không có đâu, đừng có nghĩ tới cái chuyện nhà cửa nữa. Mệt cả óc”.

“Thế không lẽ về ở với nhà mình thật”.

Tôi vật vờ đứng dậy mò lên gác. Cảm giác bức bối khiến mồ hôi càng túa ra.

“Bác ấy cũng có con cái mà, có phải không đâu. Dù gì con vẫn là con, cháu chỉ là cháu”, vẫn là giọng mẹ tôi, “rồi còn cô Ba nữa. Nhà cô Ba nhìn vậy chứ khá hơn nhà mình nhiều…”.

Điện thoại lại rung. Tôi ghé mắt xuống, có lẽ là bác Hai. Bác đang còn ở bệnh viện và có người hỗ trợ. Ba tôi không nghe điện thoại. Mẹ tôi cũng ngồi im.

“Coi tính thế nào đi chứ. Nhà mình làm sao mà có thêm người ngoài vào ở được”.

Tôi nằm xuống, đầu óc mụ mị quay quay trong cái lò bát quái.

Làm sao có thêm người ngoài vào ở được. Thật. Làm sao mà được…

Có thể bạn quan tâm

Sau hơn 10 năm hoạt động, nhà sách cuối cùng trong hệ thống Cá Chép phải nói lời tạm biệt Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng lặng giữa phố

Ly trà đặt nhẹ trên bàn, chưa kịp phả hơi lạnh vào lòng tay khách, giọng của nữ quản lý đã nhuốm màu buồn bã: “Hôm nay ngồi thật lâu nha! Hai ngày nữa thôi, quán phải ngưng, thay đổi mô hình”. Tiếng thở dài thật khẽ, đủ để khách và quản lý quán cùng vấn vương, không làm phiền những người còn lại.

Sách cũ. Ảnh: NAM ANH

Tiệm sách cũ phố Cát Cụt

Hiệu sách cũ nằm ở phố Cát Cụt của Hải Phòng, nơi mà nếu người ta không để ý, sẽ dễ dàng đi ngang qua, chẳng hề hay biết mình vừa bỏ lỡ một thế giới khác.

Làng chài Sê San.

Sau cuộc rong ruổi của những người ly hương

Ngược dòng thời gian về những năm 2000, ngư dân nghèo vùng sông nước An Giang dắt díu nhau lên Tây Nguyên làm thuê. Trong những ngày tháng rong ruổi đầy gian truân ấy, họ vô tình tìm thấy lòng hồ thủy điện Sê San 4. Mặt nước mênh mông, tĩnh lặng như đánh thức bản năng sông nước của những người con sinh ra từ dòng sông Hậu.

Củi thông đun bếp.

Lửa thông

Gió từ núi đi ngang ngôi nhà ngai ngái mùi gỗ giữa những vườn rau mãn vụ.

Minh họa: HOÀNG NGUYÊN THẠCH

Mầm cây đợi

Con đường độc đạo từ bản đến trường ướt nhấm nhoét. Đất đá tở ra từng tảng, thi thoảng có những hộc đá lăn xuống chặn ngang đường. 

Sống đời phu cơm

Quốc Anh, 40 tuổi, mỗi sáng ra khỏi nhà cùng một chiếc điện thoại sạc đầy, một bình nước lọc, cái áo khoác bạc màu vì nắng, và chiếc hộp đựng đồ ăn vuông vức treo trước xe như hòm thuốc của một ông lang. Anh không chữa bệnh. Anh chữa đói. Mà đói ở phố bây giờ là thứ bệnh cấp tính, phát lên rất nhanh, đòi cấp cứu trong 15 phút.

Minh họa: ĐẶNG TIẾN

Drama mang tên thanh xuân

Hoan đến chỗ hẹn sớm 10 phút. Khoảng thời gian đó đủ để tâm trạng bình ổn. Bởi vì người hẹn cô hôm nay là anh. Người của một thời tha thiết. Người mà cô đã hơn 20 năm không gặp, thậm chí hoàn toàn bặt tin.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những ngã ba đời

Tôi tới căn nhà anh thuê ngay đầu phố Lý Nam Đế (Hà Nội) bởi một sự tình cờ. Ngồi lại lai rai vài ly cũng chẳng phải có hẹn mà nên. Nhưng tôi cứ nhớ mãi cái khung hình có dòng chữ mà một lãnh đạo của Đảng, Nhà nước viết tặng anh “ai cũng có rất nhiều chỗ để đi, nhưng chỉ có một chốn để trở về”.

Minh họa: NGUYỄN VÂN CHUNG

Những màu áo cũ

Nông thôn nơi Hân sống hãy còn rất nhiều người nghèo, cái ăn cái mặc, sự học hành con trẻ lắm khi quá sức với cha mẹ của chúng. Chưa kể nếu những bậc cha mẹ trẻ ấy còn sống chung gia đình lớn, còn cha mẹ già đau yếu bệnh tật thì đồng lương công nhân, làm thuê, cắt cỏ, xịt thuốc… sẽ không bao giờ đủ.

Nhớ phiên chợ Mộc

Nhớ phiên chợ Mộc

Ở xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc cũ (nay là phường Vinh Lộc, Nghệ An) quê tôi, cạnh gốc đa cổ thụ và cái nền đình xưa của làng là ngôi chợ mang tên chợ Mộc. Chợ Mộc làng tôi to lắm, “to” chứ không phải “lớn” đâu nhé.

Vá lưới. Ảnh: NAM NGUYỄN

Gió ở lại lòng người

Tôi đến Phú Hài, một làng chài ven biển của Phan Thiết, vào buổi sớm khi gió còn mềm. Biển khi ấy lặng, như vừa thức giấc sau một đêm dài. Không có những sắc màu rực rỡ hay ồn ào của một điểm đến du lịch, Phú Hài mở ra bằng nhịp sống chậm rãi, đủ để người mới ghé qua kịp nhận ra sự bình yên của làng.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Tình yêu của mẹ

Ở ngoại ô thành phố có một bà cụ đã mất. Chồng bà là một công nhân 70 tuổi đã nghỉ hưu. Cụ ông đến bưu điện để gửi sáu bức điện tín đến các vùng khác nhau của nước cộng hòa, tất cả đều có chung một nội dung: “Mẹ mất rồi các con về đi! Bố”.

Giàn mướp. Ảnh: SONG ANH

Nhớ mùa hoa mướp vàng

Khi cái nắng đầu hè rực lên ánh ỏi thì giàn mướp trước sân nhà tôi cũng nở hoa vàng rực. Từng đốm hoa thắp nắng giữa giàn lá xanh um, bầy ong dập dìu bay qua bay lại.

Thả lưới. Ảnh: SONG ANH

Mênh mang sông Đầm

Chiếc ghe đưa chúng tôi rời khỏi bến sông Đầm trong cái nắng đầu ngày. Chú Ba, người đồng hành cùng nhóm đã sống ở xứ này hơn sáu mươi năm.

Mưa dông. Ảnh: SONG ANH

Những cơn dông

Không hiểu sao, từ nhỏ đến giờ, tôi rất thích ngắm nhìn những cơn dông kéo đến trước mỗi trận mưa. Với tôi, đó là một khoảnh khắc kỳ diệu của thiên nhiên vũ trụ.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

3 triệu đồng

Gã trở nhà mới gần 10 giờ đêm. Trời oi nồng, vài hạt mưa lắc rắc càng làm tăng sức nóng. Trong con hẻm cụt không còn bóng người, gió yếu ớt chẳng rơi nổi chiếc lá, tưởng như màn đêm đã chìm sâu từ kiếp nào.

Dòng sông miền Tây. Ảnh: NAM NGUYỄN

Dòng sông không địa chỉ...

Trong hành trình rong ruổi của mình, có dòng sông tôi ghé lại chỉ để... thương một người. Với tôi, dòng sông Cái Lớn và chú Nguyễn Văn Lúa (cù lao Tắc Cậu, xã Châu Thành (Kiên Giang cũ), nay là An Giang) là một ký ức như thế.

Thú vui đàm đạo. Ảnh: SONG ANH

Người ở phố Hàng

Hà Nội ba sáu phố phường - khu vực các phố Hàng được coi là trung tâm kẻ chợ, nơi sầm uất, phát triển phong phú nhất của Hà thành, tạo nên nền tảng văn hóa, nhịp đập cho trái tim Thăng Long từ thuở những xa xôi lịch sử.

Chiếc máy ép mía chạy sức trâu của ông ngoại nằm yên sau nhiều năm không sử dụng.

Mùi mật mía năm xưa

Dưới mái hiên cũ kỹ của căn nhà ngoại, tôi vẫn thường ngồi lặng im, nhìn ra cánh đồng sau hè. Nơi ấy, cỏ voi, cỏ dại đã che khuất. Nhưng chỉ cần cơn gió nhẹ thổi qua làm lay động vạt cỏ xanh, tôi lại thấy thấp thoáng hai khối sắt sần sùi còn sót lại của chiếc máy ép mía ông ngoại từng dùng.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

Nỗi nhớ sông Đà

Tháng ba dương lịch năm con Ngựa. Mùa xuân đang chín ửng. Ban ngày nhiệt kế chỉ 25 nhưng đêm tụt xuống 17 độ, vẫn đủ lạnh với một cựu sĩ quan già, là chính tôi.

Người lao công. Ảnh: NAM NGUYỄN

Người dọn villa Tây

Chị Lê Thị Tịnh, ngụ làng rau Trà Quế (phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng) là một người làm nghề tạp vụ theo giờ cho những căn villa mà khách nước ngoài thuê ở phố Hội.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Vườn sau quán

Năm giờ sáng chợ đã tấp nập. Hằng kéo xe đẩy vào chỗ ngồi quen thuộc, gần cột điện, sát vỉa hè. Chị mở bao tải ra, từng bó đậu bắp xanh mướt xếp lên miếng bạt. Trái non, tươi, còn đọng sương. Hằng ngồi xuống chiếc ghế nhựa thấp, lưng còn mỏi từ hôm qua làm vườn. Ngón tay chai sần, đen nhẻm sau mấy tháng bới đất.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những người đàn bà Nậm Nghẹp

Trên bản Nậm Nghẹp (Sơn La), những ngày hoa sơn tra phủ trắng núi rừng, phía sân sau của nhà A Vạng, mấy người phụ nữ H'Mông đang đồ một chõ xôi lớn để chuẩn bị cho bữa tối.

Ảnh: HẢI ANH

Tiếng chim sẻ bên hiên nhà

Nhà tôi tiếng thuộc thị xã nhưng ở ngoài vành, tách biệt với ồn ào phố xá. Nguyên ngày xưa nhà mẹ đất quê nên chồng tôi - con trai út - ở nhà từ đường được sở hữu khu vườn khá rộng. Và tôi - con dâu của mẹ tha hồ hiện thực hóa giấc mơ đem thiên nhiên vào nhà.

Minh họa: VÕ LƯƠNG NHI

Giấc mơ huyền diệu

Mẹ lay người mấy lần nó mới tỉnh. Khuôn mặt nó vẫn còn phảng phất nụ cười rạng rỡ. “Con mơ thấy gì mà cười khoái chí thế hả?”, mẹ hỏi.