Ngày tôi nhập ngũ

Đầu tháng 12/1972 là tháng 11 năm Nhâm Tý, miền núi trời rét căm căm, sương rắc trắng đồi. Làng tôi chộn rộn hẳn lên vì sắp có đợt tuyển quân, nghe nói ngoài mồng mười tây là tập trung, hôm nay đã là mồng bốn, xã chỉ thông báo trước năm ngày, chưa biết ngày nào.

Bọn thanh niên chúng tôi túm năm, tụm ba bàn tán, đoán già, đoán non, đợt này nhập ngũ những ai... Đi làm hợp tác ra đồng sớm hơn cả kẻng, khi làm thì chưa kẻng đã muốn về, tâm trạng thấp thỏm lo không ra lo, mừng không ra mừng. Các phụ huynh thì lo lắng thật sự, ngoài niềm tự hào mình có con em trực tiếp tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, là nỗi lo bom đạn bời bời, các bà mẹ người nọ giấu người kia lấy vạt áo lau nước mắt. Các ông bố thì có vẻ am hiểu thế sự hơn, thông tin chủ yếu là nghe Đài Tiếng nói Việt Nam. Ai nghe được thông tin, nhớ gì nói đấy, rằng ta đang “Tiến công chiến lược” ở cả ba vùng Quảng Trị, Tây Nguyên, đồng bằng Nam Bộ. Nhiều trận đánh lớn, chúng ta đang giành thế chủ động ở khắp các chiến trường. Đàm phán ở Paris có nhiều bước tiến quan trọng... Bố tôi không nói ra nhưng ông biết chắc tôi sẽ nhập ngũ đợt này, vì nhà chưa có người tham gia, xã không duyệt hồ sơ cho tôi đi đại học. Bố tôi bảo: “Phải rèn tốt lúc được huấn luyện, vào chiến trường phải tinh, nhanh, hoạt bát mới được”, vì bố tôi hồi chống Pháp đã chỉ huy đội du kích của huyện. Tôi nghe thì cũng biết thế chứ chưa hình dung chiến trường khó khăn, ác liệt thế nào. Thằng Quy nghe dự kiến cũng đi đợt này nó bảo “Tao phải làm bờ, bừa cho mẹ tao cái ruộng phần trăm, không có tao đi mẹ tao lại phải đi nhờ”. Thằng Chiến bảo: “Em chết dở còn nợ anh Thung mấy nghìn chưa có trả, em đi mang tiếng quá”. Tôi thì đang cố cuốc cho xong bãi chằm, với đang cùng bố sửa cho xong cái chuồng trâu lâu ngày mái hỏng, dột tứ tung ướt hết cả nền chuồng. Gay nhất là anh Trung xóm Mạ lấy vợ có con, ông bà vừa cho vợ chồng ra ở riêng, đang làm nhà, lợp được rồi nhưng chưa che xong vách, nhà còn trống tềnh, trống toàng. Thằng Hùng thì tháng sau hỏi vợ, thấy bảo ra Giêng tổ chức mà cũng dự kiến nhập ngũ đợt này...

Hôm nhà tôi liên hoan, có anh Chương bộ đội về phép ở xóm ngoài vào chơi, mọi người xúm vào hỏi thăm, nghe anh Chương nói chuyện chiến trường. Qua anh Chương thì chiến trường ác liệt lắm, bom đạn tối tăm mặt mũi, quân ta rất anh dũng. Ăn cơm xong mọi người xúm vào cầm tay chúc tôi: “Cháu đi chân cứng đá mềm, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đem vinh quang về cho gia đình”. Ai cũng cho tôi tiền, người năm hào, người một đồng, người hai đồng. Bà Liên bảo: “Nếu vào đấy gặp anh Chiến, cháu nói với nó là mẹ ở nhà vẫn khỏe không phải lo đâu nhé”. Ông Hòa còn dặn: “Cháu gặp thằng Tài nhà bác bảo nó viết thư về, nói là con Hoa ngoan lắm hay sang giúp đỡ bác, viết thư cho nó nhé”…

7 giờ ngày 12, chúng tôi tập trung tại sân UBND xã, anh nào cũng túi xách lỉnh kỉnh. Tôi có hai túi, một túi gồm quần áo, một cuốn sổ tay bìa đỏ, một tệp phong bì và tem để gửi thư về, hai chiếc bút máy Trường Sơn có khắc tên tử tế, một lọ mực Cửu Long mới nguyên túm chặt trong miếng nylon. Một túi là nắm cơm nếp, một gói thịt gà rang gói trong lá chuối, một chai nước sôi để nguội. Sau buổi mít-tinh nghe ông Chủ tịch xã phát biểu, nghe ông xã đội trưởng quán triệt, chúng tôi hành quân bộ vào nơi tập trung của huyện. Người thân bịn rịn chia tay, vài thanh niên có xe đạp dắt theo chúng tôi đi thêm một quãng đường.

Có thể bạn quan tâm

Minh họa: TÙNG NGUYỄN

Tạm biệt Chân Mây

Mây sà rất thấp. Buổi sáng ở ga thường thế. Từ phía Chân Mây, những dải mây trắng bò qua sườn núi, tràn khắp đường ray, phủ lên mái ga bàng bạc. Nhiều hôm, Phước đứng ngoài sân, chỉ còn thấy lờ mờ ánh đèn tín hiệu phía trước, đoàn tàu hiện ra chậm chạp như cũng đến từ cõi mây.

Ảnh: ANH QUÂN

Mùi báo giấy còn vương

Hồi tờ Tuổi trẻ thông báo ra số Cuối tuần cuối cùng để chuyển sang mô hình Tuổi trẻ cuối tháng, tôi hơi khựng lại, như thể có một thứ vốn quen thuộc, từng nằm yên trong nhịp sống suốt rất nhiều năm bỗng cũng bị cuốn vào sự dịch chuyển của thời cuộc, của cách con người đọc tin tức…

Ảnh: SONG ANH

Một quãng đê hoa vàng, cỏ xanh

Quãng đê nào cũng hấp dẫn, và quãng đê dẫn lên đầu cầu Đuống thật sự khác biệt. Bất thình lình, một triền đê hoa vàng, cỏ xanh mở ra mênh mang. Không dài nhưng đủ để gieo vào lòng lữ khách một chút bồi hồi, man mác. Một cảm xúc rất Pau (Paustovsky - nhà văn Nga)!

Sau hơn 10 năm hoạt động, nhà sách cuối cùng trong hệ thống Cá Chép phải nói lời tạm biệt Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng lặng giữa phố

Ly trà đặt nhẹ trên bàn, chưa kịp phả hơi lạnh vào lòng tay khách, giọng của nữ quản lý đã nhuốm màu buồn bã: “Hôm nay ngồi thật lâu nha! Hai ngày nữa thôi, quán phải ngưng, thay đổi mô hình”. Tiếng thở dài thật khẽ, đủ để khách và quản lý quán cùng vấn vương, không làm phiền những người còn lại.

Sách cũ. Ảnh: NAM ANH

Tiệm sách cũ phố Cát Cụt

Hiệu sách cũ nằm ở phố Cát Cụt của Hải Phòng, nơi mà nếu người ta không để ý, sẽ dễ dàng đi ngang qua, chẳng hề hay biết mình vừa bỏ lỡ một thế giới khác.

Làng chài Sê San.

Sau cuộc rong ruổi của những người ly hương

Ngược dòng thời gian về những năm 2000, ngư dân nghèo vùng sông nước An Giang dắt díu nhau lên Tây Nguyên làm thuê. Trong những ngày tháng rong ruổi đầy gian truân ấy, họ vô tình tìm thấy lòng hồ thủy điện Sê San 4. Mặt nước mênh mông, tĩnh lặng như đánh thức bản năng sông nước của những người con sinh ra từ dòng sông Hậu.

Củi thông đun bếp.

Lửa thông

Gió từ núi đi ngang ngôi nhà ngai ngái mùi gỗ giữa những vườn rau mãn vụ.

Minh họa: HOÀNG NGUYÊN THẠCH

Mầm cây đợi

Con đường độc đạo từ bản đến trường ướt nhấm nhoét. Đất đá tở ra từng tảng, thi thoảng có những hộc đá lăn xuống chặn ngang đường. 

Sống đời phu cơm

Quốc Anh, 40 tuổi, mỗi sáng ra khỏi nhà cùng một chiếc điện thoại sạc đầy, một bình nước lọc, cái áo khoác bạc màu vì nắng, và chiếc hộp đựng đồ ăn vuông vức treo trước xe như hòm thuốc của một ông lang. Anh không chữa bệnh. Anh chữa đói. Mà đói ở phố bây giờ là thứ bệnh cấp tính, phát lên rất nhanh, đòi cấp cứu trong 15 phút.

Minh họa: ĐẶNG TIẾN

Drama mang tên thanh xuân

Hoan đến chỗ hẹn sớm 10 phút. Khoảng thời gian đó đủ để tâm trạng bình ổn. Bởi vì người hẹn cô hôm nay là anh. Người của một thời tha thiết. Người mà cô đã hơn 20 năm không gặp, thậm chí hoàn toàn bặt tin.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những ngã ba đời

Tôi tới căn nhà anh thuê ngay đầu phố Lý Nam Đế (Hà Nội) bởi một sự tình cờ. Ngồi lại lai rai vài ly cũng chẳng phải có hẹn mà nên. Nhưng tôi cứ nhớ mãi cái khung hình có dòng chữ mà một lãnh đạo của Đảng, Nhà nước viết tặng anh “ai cũng có rất nhiều chỗ để đi, nhưng chỉ có một chốn để trở về”.

Minh họa: NGUYỄN VÂN CHUNG

Những màu áo cũ

Nông thôn nơi Hân sống hãy còn rất nhiều người nghèo, cái ăn cái mặc, sự học hành con trẻ lắm khi quá sức với cha mẹ của chúng. Chưa kể nếu những bậc cha mẹ trẻ ấy còn sống chung gia đình lớn, còn cha mẹ già đau yếu bệnh tật thì đồng lương công nhân, làm thuê, cắt cỏ, xịt thuốc… sẽ không bao giờ đủ.

Nhớ phiên chợ Mộc

Nhớ phiên chợ Mộc

Ở xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc cũ (nay là phường Vinh Lộc, Nghệ An) quê tôi, cạnh gốc đa cổ thụ và cái nền đình xưa của làng là ngôi chợ mang tên chợ Mộc. Chợ Mộc làng tôi to lắm, “to” chứ không phải “lớn” đâu nhé.

Vá lưới. Ảnh: NAM NGUYỄN

Gió ở lại lòng người

Tôi đến Phú Hài, một làng chài ven biển của Phan Thiết, vào buổi sớm khi gió còn mềm. Biển khi ấy lặng, như vừa thức giấc sau một đêm dài. Không có những sắc màu rực rỡ hay ồn ào của một điểm đến du lịch, Phú Hài mở ra bằng nhịp sống chậm rãi, đủ để người mới ghé qua kịp nhận ra sự bình yên của làng.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Tình yêu của mẹ

Ở ngoại ô thành phố có một bà cụ đã mất. Chồng bà là một công nhân 70 tuổi đã nghỉ hưu. Cụ ông đến bưu điện để gửi sáu bức điện tín đến các vùng khác nhau của nước cộng hòa, tất cả đều có chung một nội dung: “Mẹ mất rồi các con về đi! Bố”.

Giàn mướp. Ảnh: SONG ANH

Nhớ mùa hoa mướp vàng

Khi cái nắng đầu hè rực lên ánh ỏi thì giàn mướp trước sân nhà tôi cũng nở hoa vàng rực. Từng đốm hoa thắp nắng giữa giàn lá xanh um, bầy ong dập dìu bay qua bay lại.

Thả lưới. Ảnh: SONG ANH

Mênh mang sông Đầm

Chiếc ghe đưa chúng tôi rời khỏi bến sông Đầm trong cái nắng đầu ngày. Chú Ba, người đồng hành cùng nhóm đã sống ở xứ này hơn sáu mươi năm.

Mưa dông. Ảnh: SONG ANH

Những cơn dông

Không hiểu sao, từ nhỏ đến giờ, tôi rất thích ngắm nhìn những cơn dông kéo đến trước mỗi trận mưa. Với tôi, đó là một khoảnh khắc kỳ diệu của thiên nhiên vũ trụ.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

3 triệu đồng

Gã trở nhà mới gần 10 giờ đêm. Trời oi nồng, vài hạt mưa lắc rắc càng làm tăng sức nóng. Trong con hẻm cụt không còn bóng người, gió yếu ớt chẳng rơi nổi chiếc lá, tưởng như màn đêm đã chìm sâu từ kiếp nào.

Dòng sông miền Tây. Ảnh: NAM NGUYỄN

Dòng sông không địa chỉ...

Trong hành trình rong ruổi của mình, có dòng sông tôi ghé lại chỉ để... thương một người. Với tôi, dòng sông Cái Lớn và chú Nguyễn Văn Lúa (cù lao Tắc Cậu, xã Châu Thành (Kiên Giang cũ), nay là An Giang) là một ký ức như thế.

Thú vui đàm đạo. Ảnh: SONG ANH

Người ở phố Hàng

Hà Nội ba sáu phố phường - khu vực các phố Hàng được coi là trung tâm kẻ chợ, nơi sầm uất, phát triển phong phú nhất của Hà thành, tạo nên nền tảng văn hóa, nhịp đập cho trái tim Thăng Long từ thuở những xa xôi lịch sử.

Chiếc máy ép mía chạy sức trâu của ông ngoại nằm yên sau nhiều năm không sử dụng.

Mùi mật mía năm xưa

Dưới mái hiên cũ kỹ của căn nhà ngoại, tôi vẫn thường ngồi lặng im, nhìn ra cánh đồng sau hè. Nơi ấy, cỏ voi, cỏ dại đã che khuất. Nhưng chỉ cần cơn gió nhẹ thổi qua làm lay động vạt cỏ xanh, tôi lại thấy thấp thoáng hai khối sắt sần sùi còn sót lại của chiếc máy ép mía ông ngoại từng dùng.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

Nỗi nhớ sông Đà

Tháng ba dương lịch năm con Ngựa. Mùa xuân đang chín ửng. Ban ngày nhiệt kế chỉ 25 nhưng đêm tụt xuống 17 độ, vẫn đủ lạnh với một cựu sĩ quan già, là chính tôi.

Người lao công. Ảnh: NAM NGUYỄN

Người dọn villa Tây

Chị Lê Thị Tịnh, ngụ làng rau Trà Quế (phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng) là một người làm nghề tạp vụ theo giờ cho những căn villa mà khách nước ngoài thuê ở phố Hội.