Một số quy định về bảo hiểm xã hội bắt buộc áp dụng từ ngày 1/7/2025

Có 5 nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, quy định hưởng bảo hiểm xã hội một lần hay tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc,… Đây là một số nội dung đáng chú ý từ Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc áp dụng từ ngày 1/7/2025.

Công nhân tại Công ty TNHH Daiwa Việt Nam, Khu công nghiệp Hòa Khánh, Đà Nẵng. (Ảnh CÔNG VINH)
Công nhân tại Công ty TNHH Daiwa Việt Nam, Khu công nghiệp Hòa Khánh, Đà Nẵng. (Ảnh CÔNG VINH)

Năm nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Ngày 25/6/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 158/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc (sau đây gọi tắt là Nghị định 158).

Nghị định gồm 7 chương, 45 điều, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025.

Theo quy định tại Nghị định này, có năm nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Đó là:

Thứ nhất, người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thực hiện theo quy định tại các điểm a, b, c, g, h, i, k, l, m và n khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội.

Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, i, k, l khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội được cử đi học, thực tập, công tác trong và ngoài nước mà vẫn hưởng tiền lương ở trong nước thì thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Thứ hai, chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh quy định tại điểm m khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:

Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai;

Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh không thuộc đối tượng quy định tại điểm a nêu trên thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ ngày 1/7/2029.

Thứ ba, đối tượng quy định tại khoản 2 nêu trên và điểm n khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội đồng thời thuộc nhiều đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội thì việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thực hiện như sau:

Đối tượng quy định tại khoản 2 nêu trên đồng thời thuộc đối tượng quy định tại một trong các điểm b, c, d, đ, e, i, a, l, k, n, h và g khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội thì tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo đối tượng tương ứng quy định tại điểm b, c, d, đ, e, i, a, l, k, n, h hoặc g khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội theo thứ tự đến trước;

Đối tượng quy định tại điểm n khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội đồng thời thuộc đối tượng quy định tại một trong các điểm b, c, d, đ, e, i, a, l và k khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội thì tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo đối tượng tương ứng quy định tại điểm b, c, d, đ, e, i, a, l hoặc k khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội theo thứ tự đến trước.

Thứ tư, đối tượng hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định tại điểm a khoản 7 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội bao gồm:

- Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

- Người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định tại Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 50/CP ngày 26/7/1995 của Chính phủ về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn;

- Người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định tại Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 4/8/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc trợ cấp cho những người đã hết tuổi lao động tại thời điểm ngừng hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng; Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 6/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc trợ cấp hằng tháng cho những người có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác thực tế đã hết thời hạn hưởng trợ cấp mất sức lao động;

- Người đang hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng theo quy định tại Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương; Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 6/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương; Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân tham gia kháng chiến chống Mỹ có dưới 20 năm công tác trong Công an nhân dân đã thôi việc, xuất ngũ về địa phương; Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 9/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30/4/1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc;

- Người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Điều 23 của Luật Bảo hiểm xã hội.

Thứ năm, đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng tính theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị định này thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất; người lao động làm việc theo hợp đồng thử việc theo quy định của pháp luật lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Quy định về hưởng bảo hiểm xã hội một lần

Theo Nghị định 158, hưởng bảo hiểm xã hội một lần thực hiện theo quy định tại Điều 70 của Luật Bảo hiểm xã hội và được quy định chi tiết như sau:

Một là, người lao động hưởng bảo hiểm xã hội một lần trong trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 70 của Luật Bảo hiểm xã hội được quy định chi tiết như sau:

a) Người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước ngày 1/7/2025 (trước ngày Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực thi hành) là người lao động mà tại thời điểm giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội một lần còn thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước ngày 1/7/2025 để tính hưởng bảo hiểm xã hội;

b) Việc xác định 12 tháng không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là 12 tháng không đóng bảo hiểm xã hội được tính liên tục đến tháng liền kề trước tháng cơ quan bảo hiểm xã hội tiếp nhận đề nghị giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội một lần, không bao gồm những tháng không phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại khoản 5 Điều 33 và khoản 3 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội.

Tại thời điểm người lao động nộp hồ sơ đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần, phải đang không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và đang không tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Hai là, trường hợp người lao động vừa đủ điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 70 của Luật Bảo hiểm xã hội, vừa đủ điều kiện hưởng lương hưu theo khoản 1 Điều 64 của Luật Bảo hiểm xã hội thì giải quyết theo văn bản đề nghị của người lao động.

Người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước ngày 1/7/2025 (trước ngày Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực thi hành) là người lao động mà tại thời điểm giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội một lần còn thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước ngày 1/7/2025 để tính hưởng bảo hiểm xã hội.

Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

Theo Nghị định 158, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội và được quy định chi tiết như sau:

Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác, trong đó:

a - Mức lương theo công việc hoặc chức danh tính theo thời gian (theo tháng) của công việc hoặc chức danh theo thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Lao động được thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b - Các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương tại điểm a khoản này chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không bao gồm khoản phụ cấp lương phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc của người lao động;

c- Các khoản bổ sung khác xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương theo quy định tại a, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương; không bao gồm các khoản bổ sung khác phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc của người lao động.

Nghị định nêu rõ, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với đối tượng quy định tại điểm 1 khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội là tiền lương tính trong tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.

Trường hợp trong hợp đồng lao động thỏa thuận lương theo giờ thì tiền lương tính trong tháng bằng tiền lương theo giờ nhân với số giờ làm việc trong tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.

Trường hợp trong hợp đồng lao động thỏa thuận lương theo ngày thì tiền lương tính trong tháng bằng tiền lương theo ngày nhân với số ngày làm việc trong tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.

Trường hợp trong hợp đồng lao động thỏa thuận lương theo tuần thì tiền lương tính trong tháng bằng tiền lương theo tuần nhân với số tuần làm việc trong tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.

Nghị định quy định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với đối tượng quy định tại điểm k khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội là mức phụ cấp hằng tháng của người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố. Trường hợp mức phụ cấp hằng tháng của người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc bằng tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội.

Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với đối tượng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội là tiền lương mà đối tượng này được hưởng theo quy định của pháp luật.

Trường hợp tiền lương ghi trong hợp đồng lao động và tiền lương trả cho người lao động bằng ngoại tệ thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính bằng đồng Việt Nam trên cơ sở tiền lương bằng ngoại tệ được chuyển đổi sang đồng Việt Nam theo tỷ giá bình quân của tỷ giá mua vào theo hình thức chuyển khoản của đồng Việt Nam với ngoại tệ do 4 ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước công bố tại thời điểm cuối ngày của ngày 2/1 cho 6 tháng đầu năm và ngày 1/7 cho 6 tháng cuối năm. Trường hợp các ngày này trùng vào ngày lễ, ngày nghỉ thì lấy tỷ giá của ngày làm việc tiếp theo liền kề.

Số liệu mới nhất từ Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho thấy, tính đến hết tháng 5/2025, số tham gia bảo hiểm xã hội trên cả nước đạt 19,571 triệu người. Trong số này, có 17,435 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và 2,136 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Có thể bạn quan tâm

Sản xuất thiết bị điện công nghệ cao tại Công ty cổ phần Kỹ thuật công nghiệp Á Châu tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc. (Ảnh: nhandan.vn)

Người tham gia nhận sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế điện tử như thế nào?

Từ ngày 6/10/2026, Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội cấp sổ bảo hiểm xã hội điện tử cho người tham gia để giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định. Sau đây là hướng dẫn cụ thể cách nhận và sử dụng sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế điện tử.

Tra cứu thông tin thẻ bảo hiểm y tế bằng căn cước công dân gắn chip được triển khai tại 100% cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế ở thành phố Hải Phòng. (Ảnh: THANH NGA)

Đề xuất kéo dài thời gian hỗ trợ 70% mức đóng bảo hiểm y tế lên 72 tháng

Từ những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn và yêu cầu đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, Bộ Y tế đang đề xuất sửa đổi, bổ sung 21 khoản thuộc 15 điều của Nghị định số 188/2025/NĐ-CP. Đáng chú ý, Bộ Y tế đề xuất kéo dài thời gian hỗ trợ tối thiểu 70% mức đóng bảo hiểm y tế từ 36 tháng lên 72 tháng với một số đối tượng.

Bảo hiểm xã hội cơ sở Gia Lâm (Hà Nội) truyền thông chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tại Phiên giao dịch việc làm cụm xã Gia Lâm-Phù Đổng-Thuận An-Bát Tràng năm 2026. (Ảnh: HSS)

Hà Nội xây dựng đơn vị học tập và điểm hỗ trợ kỹ năng số tại bảo hiểm xã hội cơ sở

Một trong những nội dung trọng tâm trong Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2026 của Bảo hiểm xã hội Hà Nội là xây dựng mô hình “Đơn vị học tập” và “Điểm hỗ trợ kỹ năng số” tại bảo hiểm xã hội cơ sở. Theo đó, viên chức, người lao động trực tiếp hỗ trợ người dân thực hiện các giao dịch bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điện tử.

Tài xế lái xe công nghệ hoạt động trên đường phố Hà Nội. (Ảnh: ĐĂNG ANH)

Mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội với lao động nền tảng số

Sự phát triển của kinh tế số đang tạo ra thị trường việc làm mới với hàng triệu người tham gia thông qua các nền tảng vận tải, giao nhận, thương mại điện tử và dịch vụ… Việc mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội đối với lao động nền tảng số đang đặt ra những yêu cầu mới về thiết kế chính sách và phương thức tổ chức thực hiện

Khám, chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa Đống Đa, Hà Nội. (Ảnh LÊ TẤN)

Tám tháng đầu năm 2026, Hà Nội ghi nhận hơn 9,7 triệu lượt khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế

Trong 8 tháng đầu năm 2026, Hà Nội ghi nhận hơn 9,7 triệu lượt khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, với tổng chi phí bảo hiểm y tế thanh toán hơn 22.000 tỷ đồng. Đáng chú ý, bệnh nhân ngoại tỉnh đến khám, chữa bệnh tại Hà Nội đạt tỷ trọng lớn, chiếm tới 50,9% tổng chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế toàn thành phố.

Cán bộ Bảo hiểm xã hội tỉnh Tuyên Quang hướng dẫn người lao động tham gia tại Sàn giao dịch việc làm. (Ảnh: NHẬT ANH).

Chấn chỉnh chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp qua bưu điện

Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa có công văn yêu cầu Bảo hiểm xã hội các địa phương và Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam tăng cường chấn chỉnh, kiểm soát việc chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp..., khắc phục những vấn đề tồn tại, hạn chế sai sót và nâng cao chất lượng phục vụ người hưởng.

Ê-kíp của Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ nội soi đặt stent LAMS cho bệnh nhân. (Ảnh minh họa: nhandan.vn)

Tám tháng, ghi nhận hơn 130,7 triệu lượt khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế

Đến hết tháng 8/2026, có 130,7 triệu lượt khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, với tổng chi khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế gần 118.000 tỷ đồng. Công tác khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế được triển khai trong điều kiện nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng tăng, đi cùng với các quy định, chính sách mới về y tế và bảo hiểm y tế.