Đề xuất hai phương án tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc với chủ hộ kinh doanh

Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 về bảo hiểm xã hội bắt buộc đề xuất 2 phương án quy định đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội.
Cán bộ Bảo hiểm xã hội quận Long Biên, Hà Nội, tuyên truyền về chính sách bảo hiểm xã hội. (Ảnh: NGÂN ANH)
Cán bộ Bảo hiểm xã hội quận Long Biên, Hà Nội, tuyên truyền về chính sách bảo hiểm xã hội. (Ảnh: NGÂN ANH)

Hai phương án tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với chủ hộ kinh doanh

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã xây dựng và đang lấy ý kiến về dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2025. Luật có 11 chương và 141 điều, trong đó có 56 điều, khoản, nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết. Liên quan đến chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc có 26 điều, khoản, nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết.

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 có 11 chương và 141 điều, trong đó có 56 điều, khoản, nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết. Liên quan đến chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc có 26 điều, khoản, nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết.

Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc và điểm 13 của Nghị quyết số 142/2024/QH15 (sau đây gọi tắt là dự thảo Nghị định) gồm 7 chương, 44 điều. Trong đó, có một số các nội dung đáng quan tâm dưới đây.

Về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (Điều 3), dự thảo Nghị định đã đề xuất 2 phương án quy định đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh quy định tại điểm m khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội.

Theo đó, phương án 1 được đưa ra là:

a) Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai.

b) Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản này mà có đề nghị tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Còn phương án 2 là chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh và có đề nghị tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Cùng với đó, dự thảo Nghị định quy định việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong trường hợp đối tượng quy định tại điểm m và điểm n khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội đồng thời thuộc nhiều đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội; Quy định đối tượng hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định tại điểm a khoản 7 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội.

Dự thảo Nghị định đề xuất 2 phương án quy định đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh quy định tại điểm m khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội.

Phương án 1:

a) Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai.

b) Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản này mà có đề nghị tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Phương án 2: Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh và có đề nghị tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Về đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội và cấp sổ bảo hiểm xã hội, dự thảo Nghị định quy định chi tiết việc đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với đối tượng quy định tại các điểm m, n, g và h khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội, đây là các nhóm đối tượng đặc thù không có người sử dụng lao động như các đối tượng khác.

Xây dựng quy định về tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

Tại Điều 7, dự thảo Nghị định quy định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định.

Quy định này được triển khai theo hướng trên cơ sở quy định về tiền lương theo quy định của pháp luật lao động để xác định các khoản (mức lương, phụ cấp lương, bổ sung khác) phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Về tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố (đối tượng quy định tại điểm k khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội), theo quy định hiện hành thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã là mức lương cơ sở. Tuy nhiên, hiện nay người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố được hưởng chế độ phụ cấp do ngân sách nhà nước Trung ương khoán cho các địa phương với mức bằng từ 1,5-2 lần mức lương cơ sở. Vì vậy, dự thảo Nghị định đề xuất quy định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố là mức phụ cấp hằng tháng.

Bên cạnh đó, dự thảo Nghị định quy định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong trường hợp tiền lương ghi trong hợp đồng lao động và tiền lương trả cho người lao động bằng ngoại tệ trên cơ sở kế thừa quy định hiện hành.

Dự thảo Nghị định cũng xây dựng một số nội dung với các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm hưu trí và tử tuất.

Liên quan đến điều kiện hưởng lương hưu, dự thảo Nghị định đã quy định phụ lục về công việc khai thác than trong hầm lò; quy định việc xác định tuổi làm cơ sở xác định điều kiện hưởng lương hưu đối với một số trường hợp đặc biệt như không xác định được ngày, tháng sinh; thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên, thời gian công tác tại các chiến trường B, C trước ngày 30/4/1975 và chiến trường K trước ngày 31/8/ 1989.

Dự thảo Nghị định cũng quy định mốc tuổi để tính số năm nghỉ hưu trước tuổi quy định làm cơ sở tính giảm tỷ lệ hưởng lương hưu quy định tại khoản 3 Điều 66 của Luật Bảo hiểm xã hội.

Liên quan đến hưởng bảo hiểm xã hội một lần, dự thảo Nghị định quy định chi tiết để làm rõ trường hợp hưởng bảo hiểm xã hội một lần quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 70 của Luật Bảo hiểm xã hội không bao gồm trường hợp người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước ngày 1/7/2025 nhưng đã hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước ngày 1/7/2025; việc xác định 12 tháng không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Dự thảo Nghị định cũng quy định chi tiết mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần; trong đó quy định trường hợp đặc biệt trường hợp trong quá trình đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định mà chuyển sang làm công việc khác vẫn thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định nhưng có tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội thấp hơn; đối với người lao động có thời gian công tác ở cấp xã và thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố.

Về điều chỉnh tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, dự thảo Nghị định quy định theo hướng Bảo hiểm xã hội Việt Nam căn cứ quy định tại Nghị định và chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm do Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) công bố để thực hiện. Quy định này nhằm khắc phục bất cập hiện hành, tạo thuận lợi và kịp thời trong tổ chức thực hiện.

Theo quy định hiện hành, hằng năm Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư quy định mức điều chỉnh tiền lương và thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội để làm cơ sở giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động hưởng chế độ trong năm.

Tuy nhiên, đến ngày 25/12 hằng năm, Tổng cục Thống kê mới công bố chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm. Do vậy, khi ban hành Thông tư này vừa không thể bảo đảm đúng quy trình của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời cũng không kịp thời trong giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động hưởng chế độ từ ngày 1/1 hằng năm.

Tính tới hết tháng 9 năm 2024, cả nước có 19,026 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội. Trong đó này, số tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là 17,033 triệu lao động.

Có thể bạn quan tâm

Các tổ bầu cử trên địa bàn phường Hoàn Kiếm hoàn tất việc trang trí khu vực bỏ phiếu, bảo đảm trang nghiêm, đúng quy định. (Ảnh ĐẠI LONG)

Ngành bảo hiểm xã hội nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân trước ngày bầu cử

Các đơn vị trực thuộc, bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, nâng cao chất lượng phục vụ người tham gia và thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Hoạt động nghiệp vụ tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số (Bảo hiểm xã hội Việt Nam).

Chỉ số hài lòng với phục vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội năm 2025 tăng hơn 2%

Chỉ số hài lòng chung của tổ chức, cá nhân đối với sự phục vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội năm 2025 đạt 89,50%, tăng 2,03% so với năm 2024. Con số này cho thấy sự cải thiện về chất lượng phục vụ của hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng như phản ánh hiệu quả của công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số.

Lao động tại Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2. (Ảnh minh họa nhandan.vn)

Sổ bảo hiểm xã hội điện tử đủ thông tin như bản giấy, tích hợp tài khoản VNelD mức độ 2

Sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử được tạo lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm theo mã số bảo hiểm xã hội duy nhất. Sổ được lưu trữ, cập nhật thường xuyên tại kho quản lý dữ liệu điện tử của người tham gia và được tích hợp với tài khoản VNelD mức độ 2, tài khoản VssID, chứa thông tin đầy đủ như sổ bảo hiểm xã hội bản giấy.

Sản xuất các sản phẩm dệt nhuộm tại Công ty TNHH Dệt nhuộm Jasan Việt Nam tại Khu công nghiệp Phố Nối B, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh minh họa ÐĂNG DUY)

Đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách hành chính về bảo hiểm xã hội trong năm 2026

Kế hoạch cải cách hành chính năm 2026 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu cải cách hành chính phải xuất phát từ lợi ích của người dân, doanh nghiệp; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo đánh giá chất lượng phục vụ của hệ thống bảo hiểm xã hội.

Chụp X-quang tại Bệnh viện Bạch Mai.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam phản hồi về việc giám định và thanh toán dịch vụ kỹ thuật hình ảnh

Việc hiểu hoặc áp dụng quy định theo hướng yêu cầu bác sĩ, kỹ thuật viên “chờ đủ thời gian” mới tiếp tục thực hiện ca dịch vụ kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trong khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế chưa phù hợp bản chất của hướng dẫn y tế chuyên môn. Điều này có thể ảnh hưởng đến thời gian, quyền lợi của người bệnh bảo hiểm y tế.