MỘT
Chị tỉnh giấc bởi tiếng sấm. Sấm rền rĩ một chuỗi dài chạy từ xa đến, dội vang trên đầu, rồi lại lan dần về phía xa và biến mất. Những chuỗi sấm nối nhau. Chị ra khỏi giường bước đến bên cửa sổ nhìn xuống khu vườn.
Lúc này đã hơn một giờ sáng. Đèn vườn vẫn sáng. Không có một hạt mưa nào. Sao sấm nhiều vậy mà không có mưa. Khu vườn yên tĩnh. Chỉ có gió nhẹ làm lay động những khóm hoa hồng. Chiều qua chị lang thang trong khu vườn.
Chị ngạc nhiên vì những bông hoa hồng quá to. Chị hỏi “Sao mùa này lại có hoa hồng nhỉ”. Chàng nhà văn trẻ kiêm phiên dịch cho đoàn nhà văn trong đó có chị nói “Hoa hồng trái mùa chị ạ. Tóm lại Mỹ rất nhiều cái khác nước mình”. Buổi sáng lúc ngồi uống cà-phê trong vườn dưới tán cây táo, chị nói:
- Đêm qua lúc gần sáng, sấm nhiều thế mà không thấy mưa.
- Sao em chẳng thấy gì nhỉ. Làm gì có sấm. Chắc chị mơ ngủ. Em dậy lúc ba giờ sáng và ngồi dịch bài phát biểu cho mấy nhà văn trong đoàn đến lúc xuống ăn sáng mà. Em có thấy gì đâu.
- Chắc cậu không để ý - chị nói - Sấm rung cả cửa kính.
- Chị mơ ngủ rồi - chàng nhà văn trẻ nói.
Mấy nhà văn trong đoàn cũng không ai nghe được tiếng sấm. Chàng nhà văn trẻ hỏi ông nhà văn người Mỹ chủ nhà. Ông nói không nghe thấy gì và mùa này ở Mỹ không phải mùa mưa gió. “Sao mình lại nghe thấy sấm vào lúc gần sáng nhỉ - chị thầm nghĩ - Mà đã hai đêm rồi”.
Khi tổ chức cử chị tham gia đoàn đi Mỹ, chị quyết định không đi. Tại sao lại phải đến đất nước đó? Một đất nước đã gây ra cuộc chiến tranh tàn khốc nhất thế kỷ 20 trên chính mảnh đất của chị. Chị là một cô gái nhu mì và lúc nào cũng như sợ hãi một cái gì ở đâu đấy nhưng lại là người đầu tiên viết đơn xung phong lên đường vào mặt trận.
Ngày chị lên đường, mẹ chị khóc mãi vì thương chị. Bà bảo: “Ở nhà sợ cả một con gián thì sống thế nào được ở nơi bom đạn ấy hở con”. Nhưng chị đã lên đường. Suốt những năm làm thanh niên xung phong trên đường mòn Hồ Chí Minh, chị không hề nghĩ đến cái chết.
Chỉ có một thứ làm chị sợ như sợ những con gián trong cái góc nhà kho ẩm thấp và nhiều bóng tối của gia đình mình. Đấy là hình ảnh những tên lính Mỹ đội mũ sắt, đeo kính đen, ngồi trên trực thăng, tay lăm lăm súng máy, bay dọc các đoạn đường mòn, soi mói tìm những người lính giải phóng.
Hình ảnh ấy mang đến cho chị nỗi ám ảnh kinh hãi nhưng không phải nỗi ám ảnh của những viên đạn súng máy cày nát trên mặt đường hay cái chết. Một nỗi ám ảnh gì đó không rành mạch đeo đuổi chị suốt những năm còn ở chiến trường đến tận lúc này.
Khi xuống sân bay ở New York, chị thật sự hoảng loạn. Chị cảm thấy quanh chị quá nhiều những tên lính Mỹ tóc cắt ngắn, đeo kính đen, lăm lăm súng máy trên những chiếc trực thăng bay rà soát dọc một đoạn đường mòn.
Một nỗi ám ảnh gì đó không rành mạch đeo đuổi chị suốt những năm còn ở chiến trường đến tận lúc này.
Chị toát mồ hôi. Chị nói với chàng nhà văn trẻ làm phiên dịch cho đoàn: “Chị muốn quay về. Chị không muốn đến đây”. Chàng nhà văn trẻ nhìn chị vừa lo âu, vừa thông cảm và vừa đầy khó chịu.
Chàng nói như gắt: “Chị lên máy bay về một mình đi. Nếu không về được một mình thì hãy xếp hàng làm thủ tục nhập cảnh. Không ai đợi được đâu”. Chị không nói gì. Chị không thể quay về, vả lại chị không biết tiếng Anh. Đây là nước Mỹ chứ không phải đất nước mà chị chỉ cần ra đường vẫy một chiếc xe tải và trở về nhà.
Khi bước chân vào sân ngôi nhà của một người Mỹ, người đứng đầu tổ chức của một trường đại học đã mời đoàn nhà văn sang đây, chị thấy một cậu bé Mỹ trạc năm tuổi giơ tay vẫy chị và nói một câu gì đó. Chị hỏi chàng nhà văn trẻ: “Nó nói gì thế?”. “Nó nói cháu chào cô đã đến nhà cháu”.
Nghe xong, chị cảm thấy lòng mình có một chút gì đó nhẹ đi. Chị vốn yêu trẻ con. Chị bước đến trước đứa bé và mỉm cười: “Chào cháu, cháu xinh quá”. Chị chìa tay bắt tay cậu bé. Bàn tay nhỏ bé, mềm mại của cậu bé nằm gọn trong tay chị. Chị thấy xúc động. Nhưng rồi chị nghĩ: Những tên lính Mỹ đến xâm lược quê hương chị chắc hồi bé cũng có một bàn tay như vậy.
Bữa tối hôm đó, ông chủ nhà đi mua phở về cho các nhà văn từ tiệm phở trong một khu phố của người Việt. Ông mang cả một chai nước mắm ra. Chị vô cùng ngạc nhiên sao nước Mỹ lại có nước mắm. Hương vị quen thuộc của nước mắm làm chị bớt nhớ nhà.
Nhưng ngay đêm đầu tiên ở đất nước xa lạ này, chị không ngủ được. Khoảng gần sáng chợp mắt chị nghe thấy tiếng sấm rền rĩ. Chị tỉnh giấc tưởng trời mưa. Nhưng cả ngôi nhà vẫn yên tĩnh lạ thường. Chị nhìn qua cửa sổ ra vườn.
Khu vườn yên tĩnh, chỉ những tán lá và những khóm hoa hồng đung đưa trong gió đêm. Chiều qua, ngồi uống trà dưới tán cây táo trong vườn, giữa những khóm hoa hồng thoang thoảng hương, chị cứ nghĩ sao một đất nước yên bình như thế này lại mang bom đạn dội lên một đất nước khác? Con người có lúc như hóa điên. Chị vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng.
Có lẽ đó là lý do chị cầm bút viết tất cả những gì đang vang lên trong đầu, vừa rành mạch lại vừa rối bời. Rồi một nhà xuất bản đã in những gì chị viết trong những đêm khuya khoắt thành một cuốn sách. Rất nhiều người đã mua sách của chị. Có những người tìm đến chị để xin chữ ký.
Chị cũng không hiểu sao họ lại thích những cảm xúc và suy nghĩ riêng tư của mình như thế. Mỗi khi ngồi xuống viết trong đêm chị lại nhớ hồi vào chiến trường, chị mang trong ba-lô cuốn sách “Giã từ vũ khí” của một nhà văn Mỹ nổi tiếng.
Chị không thể tìm thấy sự tương đồng nào giữa một đội quân xâm lược đầy vũ khí với cuốn sách kia. Có gì đã làm nên một nhà văn như thế và một đội quân như thế. Thật điên rồ, thật không hiểu được.
HAI
Chiều nay một nhà văn cựu binh Mỹ đến dự hội thảo và được chủ nhà xếp ở cùng với đoàn nhà văn cựu chiến binh Việt Nam nhưng dưới tầng hầm. Khi anh ta xuất hiện, chị giật mình choáng váng. Hắn - nhà văn Mỹ tóc cắt ngắn, ria mép xén gọn, đeo kính đen.
Mỗi khi ngồi xuống viết trong đêm chị lại nhớ hồi vào chiến trường, chị mang trong ba-lô cuốn sách “Giã từ vũ khí” của một nhà văn Mỹ nổi tiếng.
Ông chủ nhà giới thiệu: “Đây là Giêm, tiểu thuyết gia, cựu binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, vốn là lính bắn súng máy trên trực thăng dọc đường mòn Hồ Chí Minh”. Chị tưởng tim mình vỡ vụn. Một cảm giác kinh hãi chiếm đoạt chị.
Chị như nghe thấy tiếng đập cánh của một con gián hôi xì bay lướt qua căn phòng đầy ánh sáng buổi sớm của chị có ô cửa hướng ra mảnh vườn nhỏ. Chị gai hết người. Chàng nhà văn trẻ nhanh nhảu giới thiệu các nhà văn Việt Nam với Giêm. Sau khi chàng nhà văn nói gì đó về chị, chị thấy Giêm bước đến trịnh trọng cúi đầu chào và bắt tay chị.
Một bàn tay dày nhưng rất ấm. Chị vẫn thường nói với bạn bè rằng những người có bàn tay dày và ấm là những người tốt. Nhưng chạm vào tay của Giêm thì chị lại muốn rút tay mình ra khỏi bàn tay đó càng nhanh càng tốt.
Chị cảm giác như chạm vào những cái chân gián. Giêm nói với chị anh đã được đọc một số truyện ngắn của chị do Nhà xuất bản báo chí Đại học Massachusetts ấn hành mấy năm trước trong một tuyển tập của các nhà văn cựu binh Việt Nam. Đọc xong Giêm mơ ước được gặp tác giả viết ra những truyện ngắn đó. Giêm nói Chúa đã nghe được lời cầu xin của anh và anh đã được gặp chị.
Giêm cám ơn Chúa đã mang chị đến nước Mỹ. Buổi tối hôm đó, chị nói với chàng nhà văn trẻ: “Hắn ta nói thế thật à? Cậu mà dịch bịa thì chết với tôi”. Mặt chàng nhà văn trẻ nghệt ra: “Em không được phép dịch sai một câu. Em còn mê truyện của chị và mong được nhìn thấy chị huống hồ người khác”. Tối đó chị lẩm bẩm: “Làm sao hắn lại có thể hiểu và đồng cảm được những gì mình viết cơ chứ”.
Khi Giêm trò chuyện với các nhà văn trong đoàn về chiến tranh và văn học, chị lặng lẽ quan sát anh ta. Chị thấy Giêm chân thành và nhiều bối rối. Chị cố kết nối hình ảnh của những tên lính Mỹ đội mũ sắt, đeo kính đen, ngồi ở cửa trực thăng, lăm lăm súng máy trên đường mòn, sẵn sàng xả đạn vào mục tiêu bên dưới và Giêm đang trước mặt chị. Giêm kể có lần anh phát hiện ra một phụ nữ đang đạp xe trên một con đường đất từ một xóm nhỏ tới đường mòn.
Đấy là một chiều đầy gió. Gió thổi tung mái tóc dài của người phụ nữ. Giêm khao khát muốn nhảy khỏi trực thăng xuống con đường, ngồi sau xe đạp của người phụ nữ và cùng đạp đến một nơi nào đấy. Buổi tối, chị chìm đắm trong hình ảnh tưởng tượng hai người đạp xe đi đến một nơi chốn nào đó. Chị nghĩ một lúc nào đó, chị sẽ nhờ chàng nhà văn trẻ hỏi xem Giêm muốn đạp xe tới đâu. Nhờ người hỏi chứ chị sẽ không hỏi. Chị không phải kẻ tò mò.
Hơn nữa chị không muốn hỏi bất cứ một câu hỏi nào với một kẻ xâm lược ngoài câu “Vì sao các người lại mang bom đạn đến đất nước tôi?”. Nhưng rồi cứ gần sáng chị lại tỉnh giấc bởi tiếng sấm. Khi nói với mọi người chuyện đó thì chẳng ai nghe thấy gì cả. Hay là mình mơ ngủ thật. Chị nghĩ. Nhưng chị có hay ngủ mơ đâu.
Duy nhất một lần sau khi chiến tranh chấm dứt, chị mơ thấy Hạnh về. Hạnh là đồng đội của chị đã hy sinh trong một chiều mùa đông ngay trên đường mòn. Hạnh hiện ra trong mơ, đưa cho chị một tấm thiếp cưới và nói: “Tháng sau em cưới. Chị phải đến dự đấy”. Khi nhận tấm thiếp mời cưới, chị thấy tấm thiếp ướt máu. Hạnh lúng túng nói: “Không hiểu sao máu từ vết thương của em vẫn cứ chảy đến giờ chị ạ”.
Tỉnh giấc, chị ngồi trong góc phòng ngủ và khóc cho tới sáng. Sau đó mấy ngày, chị trở lại đoạn đường mòn nơi Hạnh đã hy sinh. Chị thắp những nén hương rải rác khắp đoạn đường và khấn “Hạnh ơi, hòa bình rồi, đừng để cho máu chảy nữa em nhé, Hạnh ơi”.
BA
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không nỡ bỏ đi.
Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy”. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện.
Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe”. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng - chàng nhà văn trẻ dịch - Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Anh ấy xin lái xe buýt cho thành phố. Nhưng chỉ được nửa năm lại bỏ vì lúc nào cũng thấy máu chảy dưới những bánh xe. Về nhà anh ấy ngủ suốt ngày với hy vọng mọi ám ảnh của cuộc chiến biến mất. Nhưng càng ngủ thì những cơn ác mộng càng đến. Và vì thế, ngày nào anh cũng làm một việc duy nhất là trồng các khóm hoa hồng khắp vườn. Khi vườn hết chỗ, anh ấy mua các thùng gỗ, đổ đất vào để trồng.
Cả khu nhà anh chật kín những thùng gỗ hoa hồng. Một đêm không ngủ, anh mở máy tính và viết, viết và viết cho đến tận trưa hôm sau rồi ngủ gục trên sàn nhà. Tỉnh dậy anh nhận ra việc viết như thế đã lấp những khoảng trống ám ảnh và sợ hãi trong anh lâu nay mà không gì có thể làm được. Từ hôm đó anh lao vào viết, quên việc mỗi tuần phải đến khám bác sĩ tâm thần một lần”.
Cuối cùng Giêm nói trong nước mắt: “Không viết ra những điều ấy thì tôi hoặc bị điên hoặc đã tự tử”. Nghe vậy, chị khẽ giật mình. Hóa ra hắn cũng có gì đó giống chị. Nếu không viết chắc chị không sống bình thường như bây giờ, tất nhiên chị không bị tâm thần hay tự tử. Cuộc sống còn bao điều đẹp đẽ mà.
Khi bóng tối bắt đầu phủ xuống khu vườn thì gió nổi lên thổi ào ào qua các tán lá và mưa bắt đầu đổ xuống. Giêm giục chị vào nhà kẻo bị ướt. Chị vội bước vào dưới mái hiên, cũng là tránh không muốn đứng với Giêm trong vườn. Giêm đi theo chị và ngồi xuống gần chị. Khu vườn trong chớp mắt đã chìm trong cơn mưa. Lúc đó một chuỗi những tiếng sấm vang lên. “Bây giờ thì sấm thật rồi.
Sao những ngày ở đây cứ gần sáng mình lại nghe thấy sấm nhỉ”. Chàng nhà văn trẻ tinh nghịch nhìn chị và nói: “Bây giờ mới là sấm thật chị nhé. Không phải trong mơ đâu”. Giêm nhìn ra phía khu vườn đang mưa và nói như với một ai đó:
- Những ngày đầu tiên từ chiến trường Việt Nam trở về, tôi thường tỉnh giấc vì nghe thấy tiếng sấm dội trên mái nhà.
Nghe Giêm nói vậy, chị suýt kêu lên “Anh giống tôi quá” nhưng vội kìm lại được. “Sao anh ta cũng có những đêm giống mình thế nhỉ. Hay anh ta đọc được suy nghĩ của mình. Mình với anh ta không thể có những cơn mơ giống nhau được. Không bao giờ”.
- Nhưng rồi - Giêm ngừng lại, ánh mắt như nhìn xa hơn về tận chốn nào đó - Tôi nhận ra không có tiếng sấm nào cả. Đấy chỉ là tiếng bom trong những ngày chiến tranh còn trong ký ức tôi mà thôi.
“Trời” chị khẽ kêu lên. Lúc này chị chợt nhận ra tiếng sấm trong những đêm gần sáng mà chị nghe được hóa ra là tiếng bom dội xuống đường mòn chưa rời khỏi ký ức chị. Lúc này trời như mưa to hơn. Một chuỗi sấm rền vang trên mái nhà. Cả chị và Giêm đều giật mình. Chị liếc nhìn Giêm. Giêm ngồi như co rúm lại trong bóng tối dưới mái hiên, yếu đuối và sợ hãi.
Gương mặt Giêm tựa gương mặt của một đứa trẻ đang sợ hãi. Gương mặt ấy giống gương mặt đứa em trai chị hồi nhỏ ngồi trên hiên nhà chờ mẹ chị đi làm về muộn. Và đêm ấy là đêm đầu tiên chị không còn tỉnh giấc bởi tiếng sấm nữa.
Tỉnh giấc khi trời gần sáng, chị cố lắng nghe xem có tiếng sấm từ đâu đó vọng về không. Chị ra khỏi giường đến bên cửa sổ và nhìn xuống khu vườn. Khu vườn im lặng trong ánh đèn. Chị chỉ thấy những khóm hồng trái mùa khẽ đung đưa trong những cơn gió nhẹ thổi qua.
Và đêm ấy là đêm đầu tiên chị không còn tỉnh giấc bởi tiếng sấm nữa.
Buổi sáng trước khi rời nước Mỹ, chị ký tặng Giêm tập truyện ngắn được dịch và xuất bản với cái tên “Tiếng đập cánh của bồ câu”. Chị định hỏi Giêm một câu: “Anh sẽ đạp xe đến nơi nào với một người phụ nữ?”. Nhưng chị lại im lặng. Chị đang nghĩ tới chuyến bay trở về nhà. Chị có cảm giác đã xa ngôi nhà của mình trọn một kiếp người.
Hà Đông, tháng 12 năm 2025