Dãy Trường Sơn làm xương sống vững chãi. Biển Đông trước mặt mềm mại như vạt áo tứ thân. Miền trung-Tây Nguyên giờ đây rộng mở, mỗi tỉnh trong khu vực đều có biển, có rừng. Sự thay đổi địa giới hành chính đã tạo cơ hội để mở rộng biên độ các vùng văn hóa. Người dân cũng có thêm nhiều dịp thụ hưởng những giá trị mà các tộc người anh em đã dày công sáng tạo, xây đắp…

1.Chọn không gian sinh tồn trên miền cao nguyên nhưng sợi dây kết nối của những tộc người miền núi với cư dân đồng bằng, duyên hải chưa bao giờ lơi lỏng. Người xứ biển miền trung cũng vậy, bao đời qua luôn ngước mắt lên nguồn. Những con dân miền bình nguyên bên bờ đại dương thì lắm lúa, khoai, nhiều cá, muối nhưng nguồn lâm thổ sản để làm nên cái nhà để ở, dược liệu chữa bệnh và rất nhiều thứ khác chỉ có thể trông cậy từ rừng. Hàng trăm năm trước, người cao nguyên từng tìm về xứ hạ để trao đổi sản vật. Những giọt nước ngọt lành nuôi sự sống đồng bằng cũng bắt nguồn từ những con sông, dòng suối trên ngàn. Chung một lãnh thổ Việt Nam, có “chớp bể” là sẽ “mưa nguồn”, ngọt ngào hay cay đắng thì anh em một cội một cành luôn hôm sớm có nhau. Mỗi khi có giặc ngoại xâm thì truyền thuyết “gươm thần” càng thêm ý nghĩa, lưỡi gươm từ các tộc người Tây Nguyên đang cầm sẽ được tra vào vỏ mà người Kinh ở miền xuôi đang giữ. Đoàn kết cùng nhau chống kẻ thù chung là truyền thống bao đời. Câu ca của người xứ “nẫu” miền trung đã có từ lâu: “Ai về nhắn với nậu nguồn/ Măng le gửi xuống, cá chuồn gửi lên” đã hàm chứa nghĩa tình, sự tôn trọng và gắn kết của cư dân hai vùng có mẹ biển, cha rừng…

Với tổng diện tích tự nhiên gần 88 nghìn km2 , dân số gần 13 triệu người, các tỉnh Lâm Đồng , Đắk Lắk, Gia Lai, Quảng Ngãi và Khánh Hòa (thuộc khu vực miền trung-Tây Nguyên) là một vùng văn hóa vô cùng đa dạng bản sắc, các giá trị ấy được sáng tạo bởi nhiều chủ thể.

Cô gái người Kinh duyên hải bên các nghệ nhân cồng chiêng nhí Tây Nguyên.

Cô gái người Kinh duyên hải bên các nghệ nhân cồng chiêng nhí Tây Nguyên.

2 Sử Việt ghi rõ ràng về sự kết nối, giao lưu của hai xứ biển, rừng từ trong quá khứ. Từ rất sớm, người đồng bằng đã tìm lên miền núi phía tây này để kết nối với đồng bào mạn ngược. Năm 1470, vua Lê Thánh Tông gọi lãnh thổ thuộc phạm vi ảnh hưởng của Pơtao Apui (Vua Lửa), Pơtao Ia (Vua Nước) là xứ Nam Bàn và coi nơi này như một thuộc quốc. Trước khi dựng cờ khởi nghĩa vào năm 1771, anh em nhà Tây Sơn đã vượt đèo An Khê lên vùng Thượng Đạo để lập căn cứ, tích trữ quân lương, vũ khí, luyện binh. Căn cứ của “Tây Sơn tam kiệt” đặt ở địa hạt của người Ba Na, J’rai. Nguyễn Nhạc lấy bà Đố người Ba Na làm vợ lẽ và giao cho bà tổ chức dân thượng lo việc hậu cần. Thời các vua triều Nguyễn thì mối quan hệ giữa các thủ lĩnh sơn cước với nhà nước phong kiến đã trở nên gắn kết thường xuyên. Nhà Nguyễn nhận sự triều cống của các thủ lĩnh Tây Nguyên và đã cử các viên quan đi tuần trú núi rừng, lập các trạm thu sản vật và thu thuế vùng thượng. Hồi đó, các đơn vị hành chính mang tên là “nguồn” (ngang với một tổng dưới đồng bằng), đã hình thành ở miền cao này. Một thí dụ khác, những dấu tích văn hóa các tộc người Chăm, Việt cư trú ở vùng biển miền trung đã xuất hiện trên miền Tây Nguyên rất sớm. Nhiều đền tháp Chăm có mặt rải rác giữa đại ngàn. Những bộ sử thi, truyện cổ, dân ca của các tộc người M’Nông, Ê Đê, Ba Na, Cơ Ho, Mạ và của đồng bào Chăm đều lưu dấu mối quan hệ qua lại giữa các tộc người từ thời cổ sử. Từ quá khứ cho đến bây giờ, tục năudrà hay còn gọi là lọtdrà của người thiểu số cao nguyên nói về những cuộc hành trình của họ xuống vùng biển hàng tháng trời để giao lưu, trao đổi, mua bán sản vật vẫn còn tồn tại. Chu Ru, một tộc người nói chung ngữ hệ với người Chăm còn được nhận sự ủy thác của tộc người này trong việc thờ cúng các vị tiền nhân của họ tại vùng sông Đa Nhim. Lịch sử thời hiện đại, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, các phong trào yêu nước, những cuộc khởi nghĩa từ miền cao nguyên của các thủ lĩnh N’Trang Lơng, Mọ Cọ, Săm Brăm… đều có sự tham gia của các nghĩa binh người Việt và Chăm. Những chiến khu chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ đều thuộc núi rừng, buôn làng Tây Nguyên…

Nhịp xoan dịu dàng của các cô gái Tây Nguyên.

Nhịp xoan dịu dàng của các cô gái Tây Nguyên.

3 Nhiều thập niên trước, các nhà nghiên cứu đã đưa ra luận thuyết về năm dạng địa hình cảnh quan trên trái đất, đó là sa mạc và bán sa mạc; núi và cao nguyên; đồi và trung du; đồng bằng; biển và bờ biển. Ứng với năm dạng địa hình cảnh quan mà các học giả phân định thì họ cũng chỉ ra các chủ thể văn hóa của các dạng địa hình cảnh quan cụ thể. Duyên hải miền trung và Tây Nguyên mà chúng tôi đang ghi nhận cụ thể từ các tỉnh Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng và Khánh Hòa - chiếm hầu hết các dạng địa hình cảnh quan đó và mỗi dạng địa hình lại có những chủ thể văn hóa khác nhau.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. (Ảnh: Công Lý)

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. (Ảnh: Công Lý)

Cơ duyên lịch sử đã kết nối những vùng đất cao nguyên và duyên hải từ trong quá khứ. Nay biển và rừng đã về trong một “ngôi nhà chung”. Đó là cơ hội dựng nên chân dung một duyên hải miền trung-Tây Nguyên trong giai đoạn mới, một vùng địa văn hóa độc đáo, nơi có nhiều lợi thế để phát huy những giá trị đã được định vị và đang tiếp biến, phát triển. Khi văn hóa rừng giao thoa văn hóa biển, chúng tôi liên tưởng đến hình ảnh các vị Yàng cao nguyên “gặp gỡ” Nam Hải Đại Vương hay thần Shiva trong một mối thân tình. Đó chỉ là cách nói ví von về sự mở rộng biên độ một vùng văn hóa sau cuộc sắp xếp các đơn vị hành chính. Tây Nguyên hôm nay rộng ra với biển và duyên hải lại có thêm nhiều cơ hội thông thương với rừng. Cuộc sắp xếp như là một cơ duyên hội tụ. Các tỉnh trong khu vực được nối dài thêm danh sách các dân tộc anh em; được mở rộng thêm không gian văn hóa vùng miền; phong phú thêm “bộ sưu tập” hệ thống di sản vật thể và phi vật thể. Những thanh âm riêng của từng tộc người, từng vùng đã được hòa âm trong một tổng phổ chung.

Tây Nguyên hôm nay rộng ra với biển và duyên hải lại có thêm nhiều cơ hội thông thương với rừng. Cuộc sắp xếp như là một cơ duyên hội tụ. Các tỉnh trong khu vực được nối dài thêm danh sách các dân tộc anh em; được mở rộng thêm không gian văn hóa vùng miền; phong phú thêm “bộ sưu tập” hệ thống di sản vật thể và phi vật thể.

Đồng bào Chăm biểu diễn văn nghệ, hát múa chào mừng trong buổi lễ đón rước y trang nữ thần Pô Inư Nưgar.

Đồng bào Chăm biểu diễn văn nghệ, hát múa chào mừng trong buổi lễ đón rước y trang nữ thần Pô Inư Nưgar.

Có một tín hiệu vui là sau khi vận hành đơn vị hành chính mới, các tỉnh trong khu vực đã tổ chức nhiều sự kiện văn hóa-nghệ thuật. Đó là dịp mà các địa phương, các tộc người từ lâu ít có dịp giao lưu, nay về chung một nhà cho nên có cơ hội tiếp xúc và mang đến cho nhau những món quà vô cùng quý giá. Trong những ngày hội chung đó, giữa núi rừng Tây Nguyên chợt nghe da diết điệu hò bá trạo siêu linh trong lễ Cầu ngư, câu lý giao duyên trữ tình hay lớp tuồng kể chuyện xưa tích cũ. Đó cũng là dịp mà ngay bên bờ đại dương, người xứ biển rạo rực cùng nhịp điệu cồng chiêng, hòa bước chân vòng xoang mà đồng bào trên núi cùng hạ sơn chia vui. Dịp Liên hoan cồng chiêng quốc tế vừa rồi, người dân Lâm Đồng cao nguyên đã ngất ngây với tiếng trống paranưng, ghinăng, tiếng kèn saranai và các làn điệu dân ca mà đồng bào Chăm “tỉnh mình” vượt núi lên biểu diễn say sưa bên hồ Xuân Hương. Chỉ riêng ẩm thực thôi, ngày xưa, hai miền thượng, hạ mang đến cho nhau măng le và cá chuồn; ngày nay là những món quà thấm hương vị núi rừng từ miền đất bazan như cà-phê, hồ tiêu, ca-cao, mắc-ca, sầu riêng, mít, bơ, chuối, hồ tiêu, atisô… Người xứ biển cũng gửi lên miền thượng bao nhiêu loài hải sản. Trong mâm cơm ngày hội hôm nay có đủ đầy hương vị của dưới biển, trên rừng…

Văn hóa luôn hiện hữu trong nguồn “gien”của mỗi tộc người, trong tổng quan địa văn hóa của mỗi vùng miền. Mở rộng biên độ thì hệ thống di sản văn hóa càng giàu có thêm. Đó chính là nền tảng, là niềm tự hào, góp phần củng cố động lực cho tiến trình phát triển của một vùng đất đẹp tươi trong lòng Tổ quốc.

Nam nữ thanh niên Ba na. (Ảnh: Thành Đạt)

Nam nữ thanh niên Ba na. (Ảnh: Thành Đạt)

Trình bày: Song Anh
Ảnh: Báo Nhân Dân