Ký ức đất lửa Hòa Vang (kỳ 2)

Kỳ 2: Những đóa hồng đất thép

Cựu chiến binh Đại đội 2 - Khu 2 Hòa Vang chụp ảnh lưu niệm trong ngày khánh thành Bia chiến tích Trung đội Lê Thị Hồng Gấm.
Cựu chiến binh Đại đội 2 - Khu 2 Hòa Vang chụp ảnh lưu niệm trong ngày khánh thành Bia chiến tích Trung đội Lê Thị Hồng Gấm.

(Tiếp theo và hết)

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Trung đội nữ Lê Thị Hồng Gấm (Đại đội 2, Khu 2 Hòa Vang, nay thuộc xã Hòa Vang, TP Đà Nẵng) đã viết nên những câu chuyện trở thành biểu tượng."Đứa mô hy sinh thì chôn, đứa còn thì đánh tiếp"

"Đứa mô hy sinh thì chôn, đứa còn thì đánh tiếp"

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, mảnh đất Hòa Vang hôm nay đã mang màu sắc mới. Những vết sẹo chiến tranh dần được thời gian và bàn tay con người khâu lành. Thế nhưng, vẫn còn đó những câu chuyện, những con người chưa bao giờ cũ. Ở đây, mỗi tấc đất, mỗi mảnh vườn đều gắn với những trận đánh.

Một ngày cuối tháng 4, theo chân cựu chiến binh Trần Chiến Chinh, tôi tìm đến căn nhà nhỏ gần Quốc lộ 14B (xã Hòa Tiến) để gặp bà Trần Thị Sốt, nguyên Trung đội trưởng đầu tiên của Trung đội nữ (Đại đội 2, Khu 2 Hòa Vang). Trung đội nữ Lê Thị Hồng Gấm (tiền thân là Trung đội 3, Đại đội 2, Khu 2 Hòa Vang) được thành lập vào cuối năm 1966. Hầu hết các chiến sĩ đều ở tuổi mười tám, đôi mươi. Trên vành đai diệt Mỹ ngày ấy, không có nơi nào thiếu dấu chân các chị. Bà Trần Thị Sốt kể: “Chúng tôi là những cô gái nhà nông vốn quen việc đồng áng thôi. Tham gia chiến đấu thì mới được huấn luyện cầm súng, đánh bộc phá, ném lựu đạn. Quen rồi thì trận đánh nào của đơn vị chúng tôi cũng có mặt”. Bà Sốt lại nói tiếp: “Ngày đó đi đánh giặc có nghĩ chi mô. Thấy Mỹ giết dân mình thì mình cầm súng. Đứa mô hy sinh thì đồng đội chôn cất, đứa còn thì lại đánh tiếp. Rứa thôi”. Hai tiếng “rứa thôi” nghe nhẹ tênh.

Từ cứu thương, tải đạn đến trực tiếp đánh đồn, trên chiến trường Hòa Vang, hầu như không có nơi nào không in dấu chân của các nữ chiến sĩ Trung đội Lê Thị Hồng Gấm. Túy Loan (bây giờ là xã Hòa Vang), Yến Nê Rừng (Hòa Tiến) đến Gò Sỏi - Hang Dơi (Đại Hiệp), bóng các cô gái trẻ gan dạ ghi dấu ấn khắp nơi. Hết thế hệ này đến thế hệ khác, họ bám làng, bám chiến trường khói lửa cho đến ngày toàn thắng.

Tháng 2/1972, để đáp ứng thay đổi trong tình hình mới, Khu ủy Khu 2, Khu đội 2 quyết định tái thành lập Trung đội nữ gồm 28 người, mang tên liệt sĩ Tiền Giang Lê Thị Hồng Gấm. Lúc này chị Nguyễn Thị Xuân Mai làm Trung đội trưởng.

52.jpg
Lá thư của liệt sĩ Nguyễn Thị Xuân Mai.

Lá thư gửi lại

Trong ký ức của cuộc đời mình, cựu chiến binh Trần Chiến Chinh không bao giờ quên người chị, người đồng đội kiên trung đã ngã xuống trên mảnh đất Hòa Vang, liệt sĩ Nguyễn Thị Xuân Mai.

Ông Chinh cũng đưa tôi trở lại khu vực An Tân và Cấm Chu Hương (nay thuộc xã Hòa Vang), nơi diễn ra trận đánh mà liệt sĩ Xuân Mai và đồng đội đã anh dũng hy sinh. Trong chiến dịch “Cắm cờ giữ đất” năm 1973, Trung đội Lê Thị Hồng Gấm dưới sự chỉ huy của Trung đội trưởng Nguyễn Thị Xuân Mai đã có trận đánh định mệnh ngày 28/1/1973 tại An Tân - đúng thời điểm ký kết Hiệp định Paris.

Chúng tôi dừng lại dưới một cây lộc vừng. Ông Chinh nói gốc cây này có hầm tránh pháo của ông Nguyễn Phẩm, cũng là nơi những nữ chiến sĩ Trung đội Lê Thị Hồng Gấm hy sinh.

Đó là những ngày cuộc chiến căng thẳng đến tột độ. Địch huy động một đại đội thuộc Tiểu đoàn 143 địa phương quân, ba trung đội nghĩa quân có máy bay, xe tăng, pháo binh yểm trợ, tấn công vào điểm chốt của Trung đội nữ Lê Thị Hồng Gấm. Từ 8 giờ sáng đến 15 giờ chiều, quân ta phản kích trên 20 đợt tấn công, tiêu diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch.

Tổ chiến đấu Trung đội Lê Thị Hồng Gấm có ba người là Xuân Mai, Hồng Vân và Minh Nguyệt. Ba cô gái trẻ với lượng đạn ít ỏi, đã phải đối đầu với cả một lực lượng địch mạnh hơn nhiều lần. Cả ba rút về căn hầm nhà ông Nguyễn Phẩm, bắn đến viên đạn cuối cùng rồi bẻ gãy súng, anh dũng hy sinh.

“Lúc này tôi đang chỉ huy Trung đội 2 chốt ở hướng khác. Đến sáng 29/1/1973, tôi mới nhận được tin từ giao liên huyện báo sang là chị Mai và nhiều đồng đội đã hy sinh”, ông Chinh nhớ lại. Thời điểm đó, các trận địa đều nhận Chỉ thị của Khu đội trưởng Phùng Văn Thành: “Còn lính, còn chỉ huy, còn người là còn chốt”. Các mặt trận vẫn tiếp tục bám trụ chiến đấu, không thể rời vị trí. Mãi tới ngày 20/2/1973, khi về căn cứ để họp rút kinh nghiệm cùng cán bộ đại đội và trợ lý tác chiến của khu đội về trận đánh vừa rồi, ông Chinh mới quay lại được Trung đội 3. “Tôi vào phòng, mở cái gùi. Cái gùi đó là của tôi. Hôm 27/1/1973, chị Mai mới hành quân, còn tôi đi trước từ ngày 25. Chị ở lại, lấy cái gùi của tôi, xếp lại đồ đạc gọn gàng”, ông Chinh nghẹn lại, “Trên miệng gùi, chị úp một cái chén ăn cơm. Tôi nhấc cái chén ra, mở gùi thì thấy hai bông hoa mua đặt trên cùng. Lúc đó hoa đã héo rồi. Bên dưới hai bông hoa là một lá thư. Lá thư được bọc ngoài bằng một tờ giấy pơ-luya màu hồng”.

Bức thư ấy, ông Chinh đã thuộc lòng từng chữ suốt hơn nửa thế kỷ qua. Ông đọc lại cho chúng tôi nghe, giọng run run:

“Chiến Chinh - Em yêu quý! Ngày mai, chị em mình lại lao vào cuộc chiến đấu. Cái gì với chị em mình dù là gì đi nữa thì cũng đã khẳng định nó từ lâu, mình sẽ sống như mình đang sống. Còn cái chết, nếu gặp nó mình cũng chẳng hối tiếc, ân hận gì. Đó là sứ mệnh lịch sử của lớp người mình, phải không em? ... Hai bông mua chị để trong gùi là kỷ vật chị để lại cho em, một bông mừng chiến công của em còn một bông nếu sau này em còn sống hãy đặt lên mộ chị... Hãy chiến đấu như những người Cộng Sản!”.

“Hãy chiến đấu như những người cộng sản”, ông Chinh đã nhớ mãi lời dặn đó: “Bức thư đó đã theo tôi suốt chặng đường chiến đấu. Đến Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, rồi vào chiến trường biên giới Tây Nam, sang cả chiến trường K. Mỗi khi đứng trước ranh giới sinh tử, tôi lại nhớ đến từng câu chữ, từng lời dặn của chị Mai”.

Sau này, ông Chinh đã trao tặng lại bức thư cho Bảo tàng Quân khu 5, để bức thư tiếp tục kể câu chuyện của nó, như một lời nhắc nhở lớp trẻ hôm nay.

Trận đánh “Cắm cờ giữ đất” của Trung đội nữ Lê Thị Hồng Gấm đã gây được tiếng vang trên các mặt trận. Bộ Tư lệnh Mặt trận 4 Quảng Đà đã tặng danh hiệu “Tổ chiến đấu anh dũng Nguyễn Thị Xuân Mai”.

Để ghi nhớ và tôn vinh những chiến công của Tổ chiến đấu Nguyễn Thị Xuân Mai và Trung đội nữ Lê Thị Hồng Gấm, huyện Hòa Vang (cũ) đã xây dựng Bia chiến tích Trung đội nữ Lê Thị Hồng Gấm với diện tích 120 m². Bia chiến tích được đặt gần nơi Liệt sĩ Xuân Mai và đồng đội hy sinh. Trên bia có khắc lại toàn bộ nội dung bức thư cuối cùng chị Mai để lại. Đứng trước bia đá, đọc từng dòng chữ “Sống như mình đang sống”, tôi chợt nhận ra, lý tưởng của các chị chưa bao giờ khép lại. Nó vẫn âm thầm chảy trong mạch nguồn của thời đại, hiện diện trong tinh thần cộng đồng hôm nay.

Hòa Vang giờ đây đã thay da đổi thịt. Những hố bom năm xưa đã hóa thành cánh đồng lúa vàng, những khu dân cư trù phú nối nhau bên những cây cầu mới. Nhưng trong sâu thẳm ký ức của vùng đất này, một thời đất lửa vẫn như còn đấy. Tinh thần đấu tranh giữ đất tới hơi thở cuối cùng vẫn được gìn giữ trong những câu chuyện kể.

Những người con gái như Xuân Mai, Hồng Vân, Minh Nguyệt đã nằm lại trong lòng đất mẹ nhưng lý tưởng của các chị vẫn rực cháy, như sắc tím hoa mua vẫn nở trên vùng đất Hòa Vang anh hùng.

Ký ức đất lửa Hòa Vang (kỳ 1)

Có thể bạn quan tâm

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.

Máy bay An-24 có lịch trình bay Gia Lâm - Đà Nẵng - Tân Sơn Nhất.

Phút giây sinh tử của người chiến sĩ an ninh hàng không

Không lâu sau khi máy bay cất cánh từ đường băng sân bay Đà Nẵng, bọn không tặc ra tay hành động. Hai tên phía trước đứng dậy rút lựu đạn, hai tên phía sau hét lớn, khống chế hành khách. Trong khoang chiếc máy bay 45 chỗ ngồi chật chội, không khí hoảng loạn, tiếng la hét, tiếng kêu khóc lẫn trong tiếng quát tháo đe dọa...

Thu hoạch chè ở Tả Củ Tỷ.

Đánh thức hương chè cổ giữa ngàn mây Tả Củ Tỷ

Trong bảng lảng sương mây bao phủ khắp đỉnh Tả Củ Tỷ (Lào Cai), nơi những dãy núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành ngăn cách nơi này với thế giới bên ngoài, có một loài cây đã bám rễ sâu vào lòng đất từ hàng trăm năm trước. Đó là chè Tuyết Shan cổ thụ - báu vật của đại ngàn.

Đại tá phi công Hoàng Biểu.

Ánh sao đêm trên cung lửa

Có những chuyến bay đêm trên vùng trời Khu 4, từ độ cao vài nghìn mét, Đại tá, phi công Hoàng Biểu nhìn xuống mặt đất chỉ thấy một màu đen đặc quánh. Không làng mạc, không ánh đèn. Chỉ có mùi của chiến tranh ngột ngạt và đáng sợ.

Đảo Trường Sa Lớn. Ảnh: HẢI NAM

Những hòn đảo đang lớn (kỳ 1)

Không phải mọi điều ở quần đảo Trường Sa đều quá mới mẻ. Nhưng vẫn có những câu chuyện đủ để giữ lại, dù là người mới đến đó một lần hay đã nhiều lần.

Hàng “độc” Nam Phi... xa mà gần

Hàng “độc” Nam Phi... xa mà gần

Buôn lậu sừng tê giác, ngà voi hay cao hổ, báo, xương sư tử… vốn là loại hình buôn bán cực kỳ đặc biệt bởi “mặt hàng kinh doanh” này được cả thế giới bảo vệ, thu dung và chăm sóc.

Cựu chiến binh Trần Chiến Chinh (bên phải) và cựu chiến binh Lê Phú Tháo thời trẻ.

Ký ức đất lửa Hòa Vang (kỳ 1)

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, là vùng ven thành phố Đà Nẵng, Hòa Vang đã trở thành chiếc răng nanh thép cắm sâu vào yết hầu quân thù. Giữa vòng vây siết nghẹt của đồn bốt, quân và dân nơi đây đã viết nên bản hùng ca bất tử.

Trẻ khiếm thính tham gia hoạt động ngoại khóa.

Rút ngắn khoảng cách để nối dài yêu thương

“Trong hành trình 14 năm vừa làm mẹ vừa đồng hành cùng con, dù đã gặp nhiều người cùng hoàn cảnh nhưng đối với gia đình, con vẫn là riêng biệt nhất”, chị Nông Thị Tình, thành viên nhóm cha mẹ trẻ khiếm thính ở Thái Nguyên chia sẻ.

TS Chu Mạnh Trinh (ngoài cùng bên phải) đi thực tế tại làng gốm Mỹ Thiện.

Ông tiến sĩ của du lịch cộng đồng

“Phải bảo vệ tuyệt đối môi trường tự nhiên”, đó là quan điểm cứng rắn của TS Chu Mạnh Trinh, giảng viên Khoa Sinh - Nông nghiệp - Môi trường Trường đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng).

Tàu vào ga xép Cẩm Giàng.

Về lại ga xép

Tôi đã cố cưỡng lại sự mời gọi của chuyến food tour (du lịch ẩm thực) tại trung tâm thành phố Hải Phòng (cũ) để xuống tàu sớm hơn ba ga.

Bà Đạm Thư chia sẻ những câu chuyện về A Lưới với bạn bè.

Người phụ nữ nặng lòng với thung lũng da cam

​Tại căn hộ chung cư nhỏ ở TP Hồ Chí Minh, tôi từng chứng kiến một hình ảnh cảm động. Có một bà cụ dáng người nhỏ bé, mái tóc bạc trắng, lưng còng gập xuống đến mức phải tựa hẳn vào chiếc xe đẩy mới có thể đứng vững.

Anh hùng LLVTND Đinh Hữu Thuần trong một lần được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Từ canh trời Tổ quốc đến góc thiền giữa trời Tây Bắc

​Gặp lại người lính ra-đa năm nào, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Đinh Hữu Thuần, giờ đây là Thiền sư Thích Chánh Tuệ giữa mù sương Sa Pa, chúng tôi hiểu rằng: Sau cùng, vinh quang lớn nhất không phải là tấm huy chương lấp lánh trên ngực áo, mà là sự tự tại, bao dung trong một tâm hồn đã dâng hiến trọn vẹn cho Tổ quốc.

Quay tời thả “cá sắt” xuống dòng sông Năng.

Lặng lẽ Đầu Đẳng

Tôi mượn ý của nhà văn Nguyễn Thành Long trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” cũng để nói về những người làm nghề “gác” trạm khí tượng thủy văn ở Đầu Đẳng. Đã hơn 50 năm, tác phẩm "Lặng lẽ Sa Pa" ra đời nhưng ở Trạm thủy văn Đầu Đẳng (xã Ba Bể, Thái Nguyên) vẫn “ba không”: Không đường, không điện, không nước sạch.

Nghệ nhân Váng Vần Séng (trái) chơi đàn lìn xìn.

Đàn lìn xìn còn vang trên núi non

Thèn Hồng Quân dẫn tôi tới nhà ông Váng Vần Séng ở thôn Cốc Coọc, xã Pà Vầy Sủ, tỉnh Tuyên Quang. Ông là nghệ nhân chế tạo đàn lìn xìn - loại nhạc cụ dùng đệm cho các khúc hát dân gian của người Nùng. Đã lâu lắm mới lại có người hỏi đàn, ông nhớ người mua đàn một, nhớ điệu hát, tiếng đàn đến mười phần.

Đường lên khu A Trạm radar 485.

Vượt dốc thăm nhà trên núi của lính biển

Chỉ còn đúng một chuyến tàu cao tốc ra đảo Trà Bản (đặc khu Vân Đồn, Quảng Ninh) lúc chúng tôi tới. Những con tàu gỗ chở khách khác đã nép mình nơi góc cảng Cái Rồng. Trời đổ mưa từ sáng, gió ngoài vịnh Bái Tử Long cũng bắt đầu trở mình.