Gió ở lại lòng người

Tôi đến Phú Hài, một làng chài ven biển của Phan Thiết, vào buổi sớm khi gió còn mềm. Biển khi ấy lặng, như vừa thức giấc sau một đêm dài. Không có những sắc màu rực rỡ hay ồn ào của một điểm đến du lịch, Phú Hài mở ra bằng nhịp sống chậm rãi, đủ để người mới ghé qua kịp nhận ra sự bình yên của làng.

Vá lưới. Ảnh: NAM NGUYỄN
Vá lưới. Ảnh: NAM NGUYỄN

Buổi sáng ở Phú Hài bắt đầu từ bãi cát. Những người đàn ông kéo lưới, bước chân nặng theo mẻ cá, tiếng thở hòa vào tiếng sóng. Không ai nói to, như thể biển đã dạy họ cách kiệm lời. Tôi gặp chú Tư Bảy, một người đàn ông đã “ăn đời với biển” hơn 50 năm, trong khoảnh khắc ấy. Da chú sạm nắng, bàn tay thô ráp, nhưng ánh mắt lại hiền. Chú nói, giọng đều như sóng: “Biển dữ đó, nhưng dữ rồi cũng cho cá. Mình sống với biển, phải học cách chịu!”.

Nghe thì giản dị, nhưng cái “chịu” ấy không giống như mọi người vẫn nghĩ. Đó là thói quen đối diện với khó khăn. Chính từ những đời ngư dân như chú Tư, làng hình thành một nếp sống ít phô trương: Làm nhiều hơn nói, vấp ngã thì tự đứng dậy, không than thở. Thoạt nghe, “chịu” dễ bị hiểu là nhẫn nhịn cho xong chuyện. Nhưng nhìn cách chú Tư sống, tôi mới hiểu đó là một lựa chọn: Biết khó mà vẫn bước tới, biết mệt mà không buông tay.

Tôi hỏi chú, đi biển mấy chục năm, điều gì là khó nhất. Chú không nhắc đến bão lớn hay những chuyến đi trắng tay. Chú kể về một buổi sớm, khi ghe gặp sóng ngược, lưới rách gần hết. “Lúc đó quay đầu cũng được”, chú nói chậm rãi, “nhưng quay rồi, ngày mai vẫn phải ra lại”. Vậy là chú và bạn ghe ngồi vá lưới ngay trên thuyền. Vá xong, họ thả lại. Hôm ấy cá không nhiều, nhưng đủ để chuyến đi không trở nên vô nghĩa.

Chú kể xong chỉ cười nhẹ: “Biển vậy đó, không phải lúc nào cũng cho. Nhưng mình không theo thì biết làm gì khác”. Nhìn cách chú làm, tôi dần hiểu cái “chịu” ấy không phải là đứng yên. Mất lưới thì vá, thiếu cá thì chia, gặp gió thì lùi lại một nhịp, chờ nước thuận rồi đi tiếp. Không chống đối, cũng chẳng than vãn gì. Mọi thứ diễn ra tự nhiên, nhưng chính sự tự nhiên ấy lại được hun đúc từ hàng chục năm va chạm với biển.

Buổi chiều, tôi thấy chú Tư ngồi vá lưới cùng bà Năm ở đầu làng. Hai người gần như không nói gì, chỉ có tiếng kim lưới đều đặn đi qua từng mắt dây. Công việc ấy lặp lại ngày này qua ngày khác, chậm rãi mà bền bỉ. Tôi hỏi chú có thấy chán không. Chú lắc đầu, cười hiền: “Không làm thì thấy thiếu, làm riết thành quen!”.

Cái quen ấy, hóa ra lại là một cách giữ mình. Ở Phú Hài, người ta không vội. Biển có con nước, đời có mùa. Vội quá thì hỏng lưới, hỏng cả mẻ cá. Nơi đây đo thời gian bằng thủy triều, không phải bằng đồng hồ. Và rồi tôi hiểu, cái “chịu” còn là khả năng ở yên với những điều lặp lại, không cần thay đổi liên tục để thấy mình đang sống. Với chú Tư, mỗi mũi vá không chỉ là sửa lại tấm lưới, mà còn là giữ cho nhịp sống không bị xô lệch trước những biến động ngoài kia.

Ở Phú Hài, tôi không thấy những điều lớn lao. Chỉ là những việc nhỏ lặp lại mỗi ngày. Nó hiện diện trong những điều rất nhỏ: Chia nhau mẻ cá khi ghe trúng; góp tay sửa chiếc thuyền gặp nạn; để cửa mở khi có người đi biển chưa về. Những điều nhỏ bé ấy dệt nên một tấm lưới vô hình đủ chặt để giữ làng, đủ mềm để mỗi người vẫn có không gian riêng.

Rời Phú Hài, tôi ấn tượng với hình ảnh một người đàn ông ngồi vá lưới trong ánh chiều, chậm rãi và bền bỉ. Nhưng chính hình ảnh ấy lại ở lại rất lâu. Bởi cái “chịu” của chú Tư và của cả Phú Hài không làm con người nhỏ đi. Ngược lại, nó khiến họ vững hơn, sâu hơn. Chẳng cần nói nhiều,nhưng ai đã từng ghé qua, từng gặp, từng nhìn thấy, đều sẽ nhớ.

Có thể bạn quan tâm

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Tình yêu của mẹ

Ở ngoại ô thành phố có một bà cụ đã mất. Chồng bà là một công nhân 70 tuổi đã nghỉ hưu. Cụ ông đến bưu điện để gửi sáu bức điện tín đến các vùng khác nhau của nước cộng hòa, tất cả đều có chung một nội dung: “Mẹ mất rồi các con về đi! Bố”.

Giàn mướp. Ảnh: SONG ANH

Nhớ mùa hoa mướp vàng

Khi cái nắng đầu hè rực lên ánh ỏi thì giàn mướp trước sân nhà tôi cũng nở hoa vàng rực. Từng đốm hoa thắp nắng giữa giàn lá xanh um, bầy ong dập dìu bay qua bay lại.

Thả lưới. Ảnh: SONG ANH

Mênh mang sông Đầm

Chiếc ghe đưa chúng tôi rời khỏi bến sông Đầm trong cái nắng đầu ngày. Chú Ba, người đồng hành cùng nhóm đã sống ở xứ này hơn sáu mươi năm.

Mưa dông. Ảnh: SONG ANH

Những cơn dông

Không hiểu sao, từ nhỏ đến giờ, tôi rất thích ngắm nhìn những cơn dông kéo đến trước mỗi trận mưa. Với tôi, đó là một khoảnh khắc kỳ diệu của thiên nhiên vũ trụ.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

3 triệu đồng

Gã trở nhà mới gần 10 giờ đêm. Trời oi nồng, vài hạt mưa lắc rắc càng làm tăng sức nóng. Trong con hẻm cụt không còn bóng người, gió yếu ớt chẳng rơi nổi chiếc lá, tưởng như màn đêm đã chìm sâu từ kiếp nào.

Dòng sông miền Tây. Ảnh: NAM NGUYỄN

Dòng sông không địa chỉ...

Trong hành trình rong ruổi của mình, có dòng sông tôi ghé lại chỉ để... thương một người. Với tôi, dòng sông Cái Lớn và chú Nguyễn Văn Lúa (cù lao Tắc Cậu, xã Châu Thành (Kiên Giang cũ), nay là An Giang) là một ký ức như thế.

Thú vui đàm đạo. Ảnh: SONG ANH

Người ở phố Hàng

Hà Nội ba sáu phố phường - khu vực các phố Hàng được coi là trung tâm kẻ chợ, nơi sầm uất, phát triển phong phú nhất của Hà thành, tạo nên nền tảng văn hóa, nhịp đập cho trái tim Thăng Long từ thuở những xa xôi lịch sử.

Chiếc máy ép mía chạy sức trâu của ông ngoại nằm yên sau nhiều năm không sử dụng.

Mùi mật mía năm xưa

Dưới mái hiên cũ kỹ của căn nhà ngoại, tôi vẫn thường ngồi lặng im, nhìn ra cánh đồng sau hè. Nơi ấy, cỏ voi, cỏ dại đã che khuất. Nhưng chỉ cần cơn gió nhẹ thổi qua làm lay động vạt cỏ xanh, tôi lại thấy thấp thoáng hai khối sắt sần sùi còn sót lại của chiếc máy ép mía ông ngoại từng dùng.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

Nỗi nhớ sông Đà

Tháng ba dương lịch năm con Ngựa. Mùa xuân đang chín ửng. Ban ngày nhiệt kế chỉ 25 nhưng đêm tụt xuống 17 độ, vẫn đủ lạnh với một cựu sĩ quan già, là chính tôi.

Người lao công. Ảnh: NAM NGUYỄN

Người dọn villa Tây

Chị Lê Thị Tịnh, ngụ làng rau Trà Quế (phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng) là một người làm nghề tạp vụ theo giờ cho những căn villa mà khách nước ngoài thuê ở phố Hội.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Vườn sau quán

Năm giờ sáng chợ đã tấp nập. Hằng kéo xe đẩy vào chỗ ngồi quen thuộc, gần cột điện, sát vỉa hè. Chị mở bao tải ra, từng bó đậu bắp xanh mướt xếp lên miếng bạt. Trái non, tươi, còn đọng sương. Hằng ngồi xuống chiếc ghế nhựa thấp, lưng còn mỏi từ hôm qua làm vườn. Ngón tay chai sần, đen nhẻm sau mấy tháng bới đất.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những người đàn bà Nậm Nghẹp

Trên bản Nậm Nghẹp (Sơn La), những ngày hoa sơn tra phủ trắng núi rừng, phía sân sau của nhà A Vạng, mấy người phụ nữ H'Mông đang đồ một chõ xôi lớn để chuẩn bị cho bữa tối.

Ảnh: HẢI ANH

Tiếng chim sẻ bên hiên nhà

Nhà tôi tiếng thuộc thị xã nhưng ở ngoài vành, tách biệt với ồn ào phố xá. Nguyên ngày xưa nhà mẹ đất quê nên chồng tôi - con trai út - ở nhà từ đường được sở hữu khu vườn khá rộng. Và tôi - con dâu của mẹ tha hồ hiện thực hóa giấc mơ đem thiên nhiên vào nhà.

Minh họa: VÕ LƯƠNG NHI

Giấc mơ huyền diệu

Mẹ lay người mấy lần nó mới tỉnh. Khuôn mặt nó vẫn còn phảng phất nụ cười rạng rỡ. “Con mơ thấy gì mà cười khoái chí thế hả?”, mẹ hỏi.

Quán trà nhỏ mùa hoa Hà Nội

Tháng ba, Hà Nội bỗng nhẹ tênh như vừa thức dậy sau giấc ngủ dài. Mùa xuân ở đây không ồn ào, cũng chẳng phô trương. Chỉ là một buổi sáng đi qua con phố quen, bỗng thấy những chùm hoa sưa trắng muốt như mây rơi xuống lòng đường.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Cây gạo mắc oan

Chiều buông. Lũ trẻ lùa trâu về nhà, qua cây gạo cổ thụ ụ rễ to sụ, ngoằn ngoèo như con trăn chúa gần cánh đồng hoang.

Ảnh: ANH QUÂN

Người của rừng

Mỗi lần bà tôi cho ra chợ phố chơi, mọi người thường chào hỏi bà tôi bằng câu: “Mới trong rừng ra hả?”.

Người không đi cùng hôm đó

Tôi đứng trước một nấm mộ nhỏ, bó hoa ly trắng khẽ đung đưa theo gió, mùi hương thoảng. Những đám mây thả nhẹ trên nền trời trong.

Nhớ. Ảnh: NAM NGUYỄN

Vọng cố hương

Ngày nào trong tuần ông cũng ở nhà một mình, như đứa trẻ được con cháu dặn dò đủ thứ cần lưu ý, nhưng tâm trí của ông cứ nhớ nhớ quên quên, vì nay ông đã ngoài tám mươi.

Minh họa: NGUYỄN NGHĨA CƯƠNG

Gió phai màu tóc

Bây giờ người ta thấy chú thím Sáu tôi tóc hai màu mà vẫn ríu rít bên nhau thì bảo là sến quá. Gì mà ông chồng phải nhổ tóc sâu cho vợ? Nắng gió đã phai hết màu nước đen óng ả mà sao thím cứ sến súa thả mái tóc muối nhiều hơn tiêu cho chồng chải giúp thật sến súa quá đi.

Đèo Đá Trắng. Ảnh: NAM HẢI

Trên đèo Đá Trắng

Chiếc xe bán tải đỗ xịch lại ngay cạnh cái lán được dựng bên khúc cua trên đèo Đá Trắng. Xe được dán chằng chịt những logo khá “hầm hố”. Cả cánh cửa bên hông được trang trí hình ảnh của một thổ dân da đỏ với những chiếc lông chim gắn ở trên đầu, cho thấy chủ nhân của chiếc xe có vẻ là những “tay chơi” thứ thiệt.

Ảnh: HẢI ANH

Thăm nhà cũ ngày xuân nắng nhạt

T rong vùng ký ức xưa cũ nhất của tôi là hình ảnh chập chờn một đứa trẻ lên ba, lên bốn, ngồi trên chiếc giường đặt tạm giữa sân.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Bóng trăng

Ngày nhiều gió, Hoàng chở cây hoàng yến sau xe máy, gạt chống xe rồi mở khóa cổng vào nhà. Anh loay hoay trồng cây hoàng yến, nhắm hướng cho vừa tầm với góc nhìn của My từ ô cửa sổ trên căn gác.

Chung tay làm bánh của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: BẮC SƠN

“Nón lắp bo mi xẩu quyệt”

Trong tiếng Thái vùng núi Thanh Hóa, có một câu nói ví von đầy ý nhị nhưng cũng thật trần trụi về nhu cầu cơ bản của con người: "Kin khẩu bo mi kẻng cắp/Nón lắp bo mi xẩu quyệt". Dịch ra tiếng Kinh, nghĩa là: “Ăn cơm không có canh khác gì đi ngủ không có người ôm”.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Tin vào cánh đào xuân

Đầu giờ chiều, trên bãi đất trống ở trụ sở xã Yên Sơn đã đầy xe máy, xe đạp. Bụi đất đỏ vồng lên thành luồng theo một chiếc xe máy đi từ đường lớn vào sân.

Hát ru. Ảnh: NAM NGUYỄN

Mùa ca dao đã mất

“À ơi... Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay...”, phải chăng ký ức của mỗi người vẫn đang cất giữ những lời ru ầu ơ, vẫn như đang nghe thấy tiếng võng đưa kẽo kẹt…

Ảnh: HẢI ANH

Chợ gốc đa, những sớm mai ở lại

Sáng nào thức dậy sớm, tôi cũng đi bộ về phía gốc đa già nằm giữa đình Quán La và chùa Khai Nguyên (nay thuộc phường Xuân Đỉnh, Hà Nội). Cái chợ nhỏ ấy, họp chẳng cần biển hiệu, cũng không cần mái che, người dân quen gọi là chợ gốc đa.