Tình yêu của mẹ

Ở ngoại ô thành phố có một bà cụ đã mất. Chồng bà là một công nhân 70 tuổi đã nghỉ hưu. Cụ ông đến bưu điện để gửi sáu bức điện tín đến các vùng khác nhau của nước cộng hòa, tất cả đều có chung một nội dung: “Mẹ mất rồi các con về đi! Bố”.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC
Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Người nữ thư ký bưu điện đứng tuổi đếm tiền rất lâu, viết biên lai và đóng dấu bằng đôi tay lẩy bẩy. Ông lão nhìn chị ta qua khung cửa gỗ. Người phụ nữ với đôi mắt đỏ hoe và lơ đãng như đang nghĩ về điều gì đó hoặc muốn xua đi nỗi đau trong lòng. Dường như chị ta cũng có một trái tim tan vỡ và một tâm hồn luôn bất an.

Gửi xong những bức điện tín, người cha già trở về nhà. Ông ngồi xuống bên người vợ quá cố. Ông hút thuốc rồi thì thầm những lời buồn bã, nhìn cuộc sống cô đơn của một con chim xám khi nó nhảy từ cành này sang cành khác trong lồng, đôi khi nó khẽ kêu lên những âm thanh yếu ớt. Rồi ông bình thản, lên dây cót đồng hồ bỏ túi liếc nhìn ra cửa sổ, nơi mùa đang thay đổi… Ông lão đang chờ đợi các con trai mình.

Người con trai cả, cũng là người thành đạt nhất, đến bằng máy bay ngay ngày hôm sau. Những người con trai còn lại cũng đều vội trở về. Một trong số họ, người con trai thứ ba, đến cùng con gái mình, một bé gái sáu tuổi chưa từng gặp ông nội.

Người mẹ đã qua đời 4 ngày nhưng nhìn bà vẫn như một người đang ngủ, nhỏ bé, tinh khiết và dịu dàng. Có lẽ sức mạnh của bà đã dành hết lại cho những người con để rồi khi dời xa cuộc sống bà đã giữ tấm thân mong manh ấy như là tài sản của riêng bà.

Những người đàn ông to lớn, đứng lặng lẽ quanh quan tài. Chỉ có ông cụ là thấp bé. Đứa trẻ thì nhắm mắt lại trước thi hài xa lạ của bà nội, người mà lần đầu tiên cô bé được gặp mặt.

Tất cả những người con trai đều khóc, những giọt nước mắt hiếm hoi, cố nén. Họ đều là những người đàn ông mạnh mẽ đầy khí phách và thành đạt. Người con trai cả làm quản đốc xưởng tại một nhà máy sản xuất máy bay. Trên ngực anh ấy lấp lánh chiếc huân chương vì thành tích xuất sắc của mình. Hai người trong số họ là thủy thủ - chỉ huy tàu. Một người là họa sĩ khá nổi tiếng đang sống tại thủ đô Moscow. Một người là nhà vật lý, mang trong mình lý tưởng cách mạng, anh đưa cô con gái nhỏ cùng đi theo về lại quê nhà. Còn người con út thì đang học để trở thành một nhà nông học.

Cả sáu người con đứng lặng lẽ bên cạnh người mẹ đã khuất, thương tiếc bà trong im lặng, giấu kín nỗi tuyệt vọng, những ký ức tuổi thơ, hạnh phúc và tình yêu họ dành cho mẹ. Họ đều biết, trong trái tim của mẹ tình yêu là vô điều kiện, dù cách xa hàng ngàn dặm và bà dành cho họ mà không cần họ phải xứng đáng…

Khoảnh khắc này, họ đều cảm thấy cô đơn và sợ hãi, như thể ở đâu đó họ là những đứa trẻ lạc trong một cánh đồng tối tăm. Xa xa chỉ có một ngọn đèn nhỏ đang cháy trên bệ cửa sổ của một ngôi nhà cũ và nó chiếu sáng màn đêm. Những con bọ cánh cứng chập choạng, cỏ xanh biếc, đàn muỗi vo ve trong không trung… Toàn bộ thế giới của trẻ thơ, đang hiện hữu, cánh cửa của ngôi nhà đó chưa bao giờ đóng. Ngôi nhà như vẫn chờ đợi để những đứa trẻ năm nào có thể trở về. Rồi đột nhiên ánh sáng khung cửa sổ đêm bỗng chốc tắt ngấm, ngôi nhà cũ chỉ còn trong ký ức.

Khi hấp hối, bà lão đã dặn dò người chồng già của mình rằng, nên mời một vị linh mục làm lễ cầu siêu tại nhà. Vị linh mục có thể sẽ biết cách giúp tang lễ bớt đi đau buồn. Bởi bà không muốn điều đó. Trong tâm trí mơ hồ bà vẫn không muốn những đứa trẻ của bà phải đau khổ…

Ông lão đã tìm kiếm rất lâu và cuối cùng, sau buổi tối, ông đã tìm được một vị linh mục. Một vị linh mục mặc quần áo thường dân, gương mặt đôn hậu với đôi mắt tinh anh. Vị linh mục đến…, ông nhanh chóng đặt và thắp nến quanh quan tài, thổi hương trầm trong lư hương và ngay lập tức, không báo trước, bắt đầu đọc một đoạn kinh thánh. Những người con trai trong phòng đứng dậy, họ cảm thấy lúng túng và có phần xấu hổ. Họ đứng bất động trước quan tài, đầu áp sát vào nhau, mắt cúi xuống…

Tối hôm đó, người cha trải sáu chiếc giường. Ông cụ chờ ở cửa khi các con đã thay đồ xong mới khẽ khàng tắt đèn khép cửa lại rồi mới đi nằm. Cô bé ngủ say, nằm một mình trên chiếc giường rộng cũ hơn 40 năm tuổi, đầu chùm chăn kín mít.

Ông lão đứng bên cạnh cô bé trong bóng tối đêm khuya, ánh sáng lờ mờ hắt bóng vào phòng qua cửa sổ. Ông lão tiến đến chiếc quan tài mở, hôn lên tay, trán và môi vợ, rồi nói với bà: “Hãy nghỉ ngơi đi”. Ông cẩn thận nằm xuống bên cạnh cháu gái và nhắm mắt lại, để cho trái tim mình quên đi mọi thứ.

Những tiếng động ở phòng của những người con trai khiến cho ông cụ và cô bé giật mình. Người con trai cả nói chuyện đầy nhiệt huyết, với sự say mê của niềm tin, như tiếng cánh quạt kim loại rỗng và giọng nói của anh ta nghe tràn trề và mạnh mẽ, để lộ hàm răng khỏe mạnh đã được sửa chữa và chiếc cổ họng đỏ hồng. Hai anh em thủy thủ kể lại những sự việc ở các cảng nước ngoài rồi cười khi cha họ đắp cho họ những chiếc chăn cũ mà họ đã dùng khi còn tuổi thiếu niên. Những chiếc chăn có những dải vải trắng được may ở trên và dưới, với chữ “đầu” và “chân” được viết trên đó, để họ có thể trải chăn đúng cách và tránh che mặt bằng mép chăn bẩn thỉu, đầy mồ hôi của chân. Sau đó, một trong những người thủy thủ túm lấy người họa sĩ và họ bắt đầu nô đùa trên sàn nhà, giống như hồi nhỏ, khi tất cả họ sống cùng nhau. Người con trai út cổ vũ họ, hứa sẽ bế cả hai người trên cánh tay trái của mình. Rõ ràng, tất cả các anh em đều yêu thương nhau và rất vui mừng khi được gặp lại nhau. Đã nhiều năm rồi họ chưa tụ họp lại, và không ai biết khi nào họ sẽ có dịp gặp lại. Có lẽ chỉ trong đám tang của cha họ? Sau khi buông tay, hai người em xô đổ một chiếc ghế, rồi im lặng một lúc, nhưng dường như nhớ rằng mẹ đã mất và bà không thể nghe thấy gì, họ tiếp tục đùa nghịch. Chẳng mấy chốc, người con trai cả yêu cầu người hoạ sĩ hát nhỏ: Dù sao thì anh ta cũng biết, những bài hát hay của Moscow.

Nhưng người họa sĩ nói rằng, anh ta khó có thể bắt đầu hát mà không có vần điệu hay giới thiệu, thậm chí là một từ. “Vậy thì, che mặt tôi lại đi”, người họa sĩ Moscow nói. Họ che mặt anh ta lại và anh ta bắt đầu hát từ dưới lớp che, để không bị xấu hổ khi bắt đầu. Trong khi anh ta đang hát, người con út làm gì đó khiến anh trai khác ngã khỏi giường và đè lên người anh thứ ba đang nằm dưới sàn.

Họ phá lên cười - cười to đến nỗi cô cháu gái nhỏ thò đầu ra khỏi chăn trong căn phòng tối và gọi: “Ông ơi! Ông ơi! Ông ngủ rồi à?”.

Ông ho: “Không, ông không ngủ, ông vẫn ổn”, ông lão nói một cách rụt rè.

Cô bé không kìm được nước mắt. Ông lão vuốt ve khuôn mặt cô bé, nó ướt đẫm nước mắt.

“Sao cháu lại khóc?” - ông lão thì thầm.

“Cháu thấy thương bà” - cô cháu gái nói - “Mọi người đều sống và cười đùa. Chỉ có bà là người không thể làm gì cả”.

Ông lão không nói gì. Ông khụt khịt mũi và ho. Cô bé sợ hãi ngồi dậy để nhìn rõ ông hơn và biết ông đang thức. Cô bé nhìn vào mặt ông và hỏi: “Sao ông cũng khóc? Cháu không khóc nữa rồi”.

Ông vội vuốt ve đầu cô bé và thì thầm: “Vậy… ông không khóc, ông chỉ đang ra mồ hôi thôi”.

Cô bé ngồi trên giường gần đầu giường của ông lão: “Ông có nhớ bà không?”. “Tốt hơn là đừng khóc, ông đã già rồi, ông sẽ chết sớm thôi và rồi đằng nào ông cũng không khóc nữa”.

“Ông sẽ không khóc nữa” - ông lão đáp khẽ.

Đột nhiên, sự im lặng bao trùm căn phòng ồn ào bên cạnh. Một trong những người con trai đã nói điều gì đó. Mọi người ở đó lập tức im lặng. Ông lão nhận ra giọng nói là của người con trai thứ ba, nhà vật lý học, cha của cô bé. Giọng nói của anh rất nhỏ nhẹ. Bằng cách nào đó, anh ta đã làm dịu tất cả các anh em của mình, họ thậm chí đã ngừng nói chuyện.

Ngay sau đó, cánh cửa mở ra và người con trai thứ ba bước ra, ăn mặc như khi còn là đứa trẻ. Anh tiến đến gần mẹ mình trong quan tài và cúi xuống khuôn mặt bình thản của bà.

Sự yên tĩnh bao trùm vì đêm đã khuya. Không một ai đi bộ hay lái xe trên đường phố. Năm người anh em đứng bất động trong phòng bên cạnh. Ông lão và cháu gái nín thở vì chăm chú.

Người con trai thứ ba đột nhiên đứng thẳng dậy, với tay trong bóng tối, nắm lấy mép quan tài. Anh ta không giữ chặt mà kéo nó sang một bên… Anh muốn giữ mẹ mình bằng một tình yêu sâu sắc và rồi trong cơn xúc động mạnh, anh đã ngất đi.

Sau khi người con trai thứ ba tỉnh lại, tất cả những người con trai đã ăn mặc chỉnh tề, mặc dù lúc đó mới 1 giờ sáng. Từng người một, họ lặng lẽ suốt đêm đi quanh sân và quanh ngôi nhà nơi người mẹ hay đứng đó, ngắm nghía các con của mình. Tất cả họ đều khóc, thì thầm những lời gửi đến mẹ…

Sáng hôm sau, sáu người con trai cùng khiêng quan tài lên vai và đưa đến nơi chôn cất, còn ông lão bế cháu gái đi theo sau. Ông giờ đã quen với việc nhớ thương bà và cảm thấy vui vẻ, tự hào. Ông khẽ mỉm cười sau bóng lưng của những người đàn ông mạnh mẽ. Ông biết sự ra đi của ông khỏi thế giới này cũng sẽ đẹp đẽ và yên bình như vậy.

THIÊN VIỆT (Dịch)

Có thể bạn quan tâm

Mưa dông. Ảnh: SONG ANH

Những cơn dông

Không hiểu sao, từ nhỏ đến giờ, tôi rất thích ngắm nhìn những cơn dông kéo đến trước mỗi trận mưa. Với tôi, đó là một khoảnh khắc kỳ diệu của thiên nhiên vũ trụ.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

3 triệu đồng

Gã trở nhà mới gần 10 giờ đêm. Trời oi nồng, vài hạt mưa lắc rắc càng làm tăng sức nóng. Trong con hẻm cụt không còn bóng người, gió yếu ớt chẳng rơi nổi chiếc lá, tưởng như màn đêm đã chìm sâu từ kiếp nào.

Dòng sông miền Tây. Ảnh: NAM NGUYỄN

Dòng sông không địa chỉ...

Trong hành trình rong ruổi của mình, có dòng sông tôi ghé lại chỉ để... thương một người. Với tôi, dòng sông Cái Lớn và chú Nguyễn Văn Lúa (cù lao Tắc Cậu, xã Châu Thành (Kiên Giang cũ), nay là An Giang) là một ký ức như thế.

Thú vui đàm đạo. Ảnh: SONG ANH

Người ở phố Hàng

Hà Nội ba sáu phố phường - khu vực các phố Hàng được coi là trung tâm kẻ chợ, nơi sầm uất, phát triển phong phú nhất của Hà thành, tạo nên nền tảng văn hóa, nhịp đập cho trái tim Thăng Long từ thuở những xa xôi lịch sử.

Chiếc máy ép mía chạy sức trâu của ông ngoại nằm yên sau nhiều năm không sử dụng.

Mùi mật mía năm xưa

Dưới mái hiên cũ kỹ của căn nhà ngoại, tôi vẫn thường ngồi lặng im, nhìn ra cánh đồng sau hè. Nơi ấy, cỏ voi, cỏ dại đã che khuất. Nhưng chỉ cần cơn gió nhẹ thổi qua làm lay động vạt cỏ xanh, tôi lại thấy thấp thoáng hai khối sắt sần sùi còn sót lại của chiếc máy ép mía ông ngoại từng dùng.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

Nỗi nhớ sông Đà

Tháng ba dương lịch năm con Ngựa. Mùa xuân đang chín ửng. Ban ngày nhiệt kế chỉ 25 nhưng đêm tụt xuống 17 độ, vẫn đủ lạnh với một cựu sĩ quan già, là chính tôi.

Người lao công. Ảnh: NAM NGUYỄN

Người dọn villa Tây

Chị Lê Thị Tịnh, ngụ làng rau Trà Quế (phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng) là một người làm nghề tạp vụ theo giờ cho những căn villa mà khách nước ngoài thuê ở phố Hội.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Vườn sau quán

Năm giờ sáng chợ đã tấp nập. Hằng kéo xe đẩy vào chỗ ngồi quen thuộc, gần cột điện, sát vỉa hè. Chị mở bao tải ra, từng bó đậu bắp xanh mướt xếp lên miếng bạt. Trái non, tươi, còn đọng sương. Hằng ngồi xuống chiếc ghế nhựa thấp, lưng còn mỏi từ hôm qua làm vườn. Ngón tay chai sần, đen nhẻm sau mấy tháng bới đất.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những người đàn bà Nậm Nghẹp

Trên bản Nậm Nghẹp (Sơn La), những ngày hoa sơn tra phủ trắng núi rừng, phía sân sau của nhà A Vạng, mấy người phụ nữ H'Mông đang đồ một chõ xôi lớn để chuẩn bị cho bữa tối.

Ảnh: HẢI ANH

Tiếng chim sẻ bên hiên nhà

Nhà tôi tiếng thuộc thị xã nhưng ở ngoài vành, tách biệt với ồn ào phố xá. Nguyên ngày xưa nhà mẹ đất quê nên chồng tôi - con trai út - ở nhà từ đường được sở hữu khu vườn khá rộng. Và tôi - con dâu của mẹ tha hồ hiện thực hóa giấc mơ đem thiên nhiên vào nhà.

Minh họa: VÕ LƯƠNG NHI

Giấc mơ huyền diệu

Mẹ lay người mấy lần nó mới tỉnh. Khuôn mặt nó vẫn còn phảng phất nụ cười rạng rỡ. “Con mơ thấy gì mà cười khoái chí thế hả?”, mẹ hỏi.

Quán trà nhỏ mùa hoa Hà Nội

Tháng ba, Hà Nội bỗng nhẹ tênh như vừa thức dậy sau giấc ngủ dài. Mùa xuân ở đây không ồn ào, cũng chẳng phô trương. Chỉ là một buổi sáng đi qua con phố quen, bỗng thấy những chùm hoa sưa trắng muốt như mây rơi xuống lòng đường.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Cây gạo mắc oan

Chiều buông. Lũ trẻ lùa trâu về nhà, qua cây gạo cổ thụ ụ rễ to sụ, ngoằn ngoèo như con trăn chúa gần cánh đồng hoang.

Ảnh: ANH QUÂN

Người của rừng

Mỗi lần bà tôi cho ra chợ phố chơi, mọi người thường chào hỏi bà tôi bằng câu: “Mới trong rừng ra hả?”.

Người không đi cùng hôm đó

Tôi đứng trước một nấm mộ nhỏ, bó hoa ly trắng khẽ đung đưa theo gió, mùi hương thoảng. Những đám mây thả nhẹ trên nền trời trong.

Nhớ. Ảnh: NAM NGUYỄN

Vọng cố hương

Ngày nào trong tuần ông cũng ở nhà một mình, như đứa trẻ được con cháu dặn dò đủ thứ cần lưu ý, nhưng tâm trí của ông cứ nhớ nhớ quên quên, vì nay ông đã ngoài tám mươi.

Minh họa: NGUYỄN NGHĨA CƯƠNG

Gió phai màu tóc

Bây giờ người ta thấy chú thím Sáu tôi tóc hai màu mà vẫn ríu rít bên nhau thì bảo là sến quá. Gì mà ông chồng phải nhổ tóc sâu cho vợ? Nắng gió đã phai hết màu nước đen óng ả mà sao thím cứ sến súa thả mái tóc muối nhiều hơn tiêu cho chồng chải giúp thật sến súa quá đi.

Đèo Đá Trắng. Ảnh: NAM HẢI

Trên đèo Đá Trắng

Chiếc xe bán tải đỗ xịch lại ngay cạnh cái lán được dựng bên khúc cua trên đèo Đá Trắng. Xe được dán chằng chịt những logo khá “hầm hố”. Cả cánh cửa bên hông được trang trí hình ảnh của một thổ dân da đỏ với những chiếc lông chim gắn ở trên đầu, cho thấy chủ nhân của chiếc xe có vẻ là những “tay chơi” thứ thiệt.

Ảnh: HẢI ANH

Thăm nhà cũ ngày xuân nắng nhạt

T rong vùng ký ức xưa cũ nhất của tôi là hình ảnh chập chờn một đứa trẻ lên ba, lên bốn, ngồi trên chiếc giường đặt tạm giữa sân.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Bóng trăng

Ngày nhiều gió, Hoàng chở cây hoàng yến sau xe máy, gạt chống xe rồi mở khóa cổng vào nhà. Anh loay hoay trồng cây hoàng yến, nhắm hướng cho vừa tầm với góc nhìn của My từ ô cửa sổ trên căn gác.

Chung tay làm bánh của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: BẮC SƠN

“Nón lắp bo mi xẩu quyệt”

Trong tiếng Thái vùng núi Thanh Hóa, có một câu nói ví von đầy ý nhị nhưng cũng thật trần trụi về nhu cầu cơ bản của con người: "Kin khẩu bo mi kẻng cắp/Nón lắp bo mi xẩu quyệt". Dịch ra tiếng Kinh, nghĩa là: “Ăn cơm không có canh khác gì đi ngủ không có người ôm”.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Tin vào cánh đào xuân

Đầu giờ chiều, trên bãi đất trống ở trụ sở xã Yên Sơn đã đầy xe máy, xe đạp. Bụi đất đỏ vồng lên thành luồng theo một chiếc xe máy đi từ đường lớn vào sân.

Hát ru. Ảnh: NAM NGUYỄN

Mùa ca dao đã mất

“À ơi... Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay...”, phải chăng ký ức của mỗi người vẫn đang cất giữ những lời ru ầu ơ, vẫn như đang nghe thấy tiếng võng đưa kẽo kẹt…

Ảnh: HẢI ANH

Chợ gốc đa, những sớm mai ở lại

Sáng nào thức dậy sớm, tôi cũng đi bộ về phía gốc đa già nằm giữa đình Quán La và chùa Khai Nguyên (nay thuộc phường Xuân Đỉnh, Hà Nội). Cái chợ nhỏ ấy, họp chẳng cần biển hiệu, cũng không cần mái che, người dân quen gọi là chợ gốc đa.

Ảnh: NGUYỄN NAM

Hết Tết, lại nhớ khói chiều cuối năm

Những chiều cuối năm ấy luôn đến chầm chậm, không báo trước, chỉ bằng lớp nắng mỏng tang trên mái ngói và tiếng chổi quét sân nghe rõ từng nhịp. Chạm đến chiều ba mươi, trong tôi lại dâng lên một cảm giác vừa hồi hộp, vừa bình yên như làn khói mỏng bay từ gian bếp.

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày bé, có lần tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, vườn nhà mình rộng thế, sao mẹ không trồng lấy một khóm hoa”. Mẹ tôi ngần ngừ rồi bảo: “Mẹ không biết nữa, mẹ chỉ muốn trồng gì đó để cả nhà được ăn no”.