ESG và hành trình Go Global: Xây dựng uy tín để doanh nghiệp Việt “được lựa chọn”

Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam không thể chỉ dựa vào lợi thế chi phí. Năng lực quản trị, tính ổn định, chất lượng, khả năng truy xuất dữ liệu và trách nhiệm với môi trường, xã hội đang trở thành những yếu tố quan trọng để xây dựng niềm tin với đối tác quốc tế.

Xây dựng năng lực cạnh tranh dài hạn

Trong nhiều năm, lợi thế về vị trí địa lý, lực lượng lao động và khả năng tổ chức sản xuất đã giúp Việt Nam trở thành điểm đến trong chuỗi sản xuất cung ứng toàn cầu. Sự hiện diện của các tập đoàn đa quốc gia tạo thêm cơ hội cho doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, phát triển công nghiệp hỗ trợ và từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu.

Tuy nhiên, khi chuỗi cung ứng quốc tế ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng, tính minh bạch và khả năng kiểm soát rủi ro, lợi thế chi phí không còn là điều kiện đủ. Một nhà cung cấp muốn duy trì đơn hàng phải chứng minh được năng lực thực hiện cam kết, từ chất lượng sản phẩm, tiến độ giao hàng đến khả năng đáp ứng các yêu cầu về môi trường và trách nhiệm xã hội.

1wupukqsm0sbxfdnmwrvv2lyqp6t15vvzsficqav85mshizhnua609qgwl3dtmkpqc8.jpg
Doanh nghiệp Việt cần trở thành nhà cung cấp trực tiếp, đảm nhận các công đoạn có hàm lượng kỹ thuật và giá trị gia tăng cao hơn. (Ảnh: ĐỖ BẢO)

Đối với các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tại Bắc Ninh, nơi tập trung nhiều cơ sở sản xuất và các tập đoàn FDI, yêu cầu này vừa tạo sức ép nâng cấp năng lực, vừa mở ra cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Cơ hội không chỉ nằm ở việc cung cấp linh kiện cho những đơn hàng hiện có, mà còn ở khả năng trở thành nhà cung cấp trực tiếp, đảm nhận các công đoạn có hàm lượng kỹ thuật và giá trị gia tăng cao hơn.

Tại Diễn đàn Go Global Bắc Ninh 2026 diễn ra ngày 10/10, câu chuyện nâng cao năng lực doanh nghiệp được đặt trong mối liên hệ giữa chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển chuỗi cung ứng và mở rộng thị trường.

Từ góc nhìn của doanh nghiệp sản xuất, ngân hàng và đơn vị vận chuyển logistics, một yêu cầu sống còn đặt ra: Muốn vươn ra thị trường quốc tế, doanh nghiệp phải xây dựng được năng lực thực chất.

ESG, viết tắt của môi trường, xã hội và quản trị, vì thế không nên được hiểu đơn thuần là một bộ tiêu chí. ESG là cách tiếp cận giúp doanh nghiệp nhận diện và quản lý những rủi ro có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, khả năng tiếp cận thị trường, chi phí vốn và quan hệ với đối tác.

Từ góc nhìn của doanh nghiệp sản xuất, ngân hàng và đơn vị vận chuyển logistics, một yêu cầu sống còn đặt ra: Muốn vươn ra thị trường quốc tế, doanh nghiệp phải xây dựng được năng lực thực chất.

Các yêu cầu cụ thể sẽ khác nhau tùy ngành nghề, thị trường và khách hàng. Tuy nhiên, việc sử dụng năng lượng hiệu quả, kiểm soát chất thải, bảo đảm điều kiện lao động, chuẩn hóa quy trình và minh bạch thông tin đang trở thành những nội dung ngày càng quan trọng trong quản trị doanh nghiệp.

Chuyển đổi số phải bắt đầu từ năng lực quản trị

Một trong những thách thức lớn của doanh nghiệp vừa và nhỏ là khoảng cách giữa việc có công cụ số và khả năng sử dụng dữ liệu để cải thiện hiệu quả vận hành.

Theo bà Trần Thị Thu Trang, Chủ tịch Công ty cổ phần Công nghệ Thế hệ mới Hanel PT, Chủ tịch Hiệp hội sản xuất công nghiệp thành phố Bắc Ninh, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng phần mềm hoặc triển khai một số công cụ số, nhưng dữ liệu vẫn phân tán giữa các bộ phận sản xuất, chất lượng, kho hàng, kế hoạch và tài chính. Khi thông tin chưa đồng bộ, doanh nghiệp khó có được bức tranh đầy đủ để ra quyết định nhanh, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc một cách nhất quán.

1wupukqsm0sg3ejdzuqvi1rqs5xpi73mwd72pzbqcevxbgqlxfdtpwxadlvtrkvtrsx.jpg
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cách tiếp cận phù hợp là lựa chọn những khâu có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, chi phí và tiến độ giao hàng để triển khai trước. (Ảnh: PHẠM TRUNG)

Khoảng cách này có thể trở thành điểm nghẽn khi doanh nghiệp muốn tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn quốc tế. Trong môi trường sản xuất hiện đại, đối tác không chỉ quan tâm sản phẩm có đạt yêu cầu ở một thời điểm hay không, mà còn muốn biết chất lượng có ổn định qua nhiều lô hàng, quy trình có được kiểm soát và những vấn đề phát sinh có được phát hiện, xử lý kịp thời hay không.

Từ thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp sản xuất, bà Trần Thị Thu Trang cho rằng chuyển đổi số cần bắt đầu từ những khâu cốt lõi như quản trị dữ liệu, chuẩn hóa quy trình, kiểm soát chất lượng và nâng cao hiệu quả ra quyết định.

Khi nền tảng này được xây dựng tốt, tự động hóa và mô hình nhà máy thông minh mới có điều kiện phát huy đầy đủ giá trị. Điều đó cũng cho thấy chuyển đổi số không đồng nghĩa với việc đầu tư thật nhiều máy móc hoặc phần mềm.

Nếu quy trình chưa được chuẩn hóa, nhân lực chưa được đào tạo và doanh nghiệp chưa xác định bài toán cần giải quyết, khoản đầu tư công nghệ có thể không mang lại hiệu quả tương xứng.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cách tiếp cận phù hợp là lựa chọn những khâu có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, chi phí và tiến độ giao hàng để triển khai trước.

Dữ liệu sản xuất, mức tiêu hao nguyên vật liệu, tỷ lệ sản phẩm lỗi, thời gian dừng máy và khả năng đáp ứng đơn hàng là những nội dung có thể giúp doanh nghiệp nhìn rõ hiệu quả của quá trình chuyển đổi. Khi dữ liệu được tổ chức tốt, doanh nghiệp có thể từng bước nâng cấp khả năng kết nối với khách hàng, đối tác logistics và các tổ chức tài chính.

Việc trao đổi thông tin về đơn hàng, kế hoạch giao hàng, hóa đơn và lịch sử giao dịch không chỉ hỗ trợ quản trị nội bộ, mà còn giúp hình thành cơ sở dữ liệu đáng tin cậy cho các hoạt động hợp tác trong chuỗi cung ứng.

Xây dựng giải pháp để chuyển đổi xanh hiệu quả

Nếu chuyển đổi số giúp doanh nghiệp nhìn rõ hoạt động sản xuất, chuyển đổi xanh tạo điều kiện để nhận diện những nguồn lực đang bị sử dụng chưa hiệu quả và những rủi ro môi trường cần được kiểm soát.

Bà Trần Thị Thu Trang nhấn mạnh: “Chuyển đổi xanh không nhất thiết phải bắt đầu bằng một dự án khổng lồ. Nó có thể bắt đầu từ một câu hỏi rất cụ thể: Trong nhà máy, chúng ta đang lãng phí ở đâu? Điện năng tiêu thụ ở công đoạn nào chưa hợp lý, nguyên vật liệu thất thoát bao nhiêu, chất thải được kiểm soát thế nào? Khi đo lường được hiện trạng, doanh nghiệp mới lựa chọn đúng giải pháp”.

Cách tiếp cận này đặc biệt có ý nghĩa với doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn thường gặp khó khăn về nguồn lực tài chính và nhân sự chuyên trách. Thay vì triển khai đồng loạt nhiều hạng mục tốn kém, doanh nghiệp có thể bắt đầu bằng việc thống kê mức tiêu thụ điện, nước, nguyên liệu; đánh giá hiệu suất thiết bị; kiểm soát chất thải và xác định các công đoạn có tiềm năng tiết kiệm lớn.

Trên cơ sở dữ liệu ban đầu, doanh nghiệp mới lựa chọn giải pháp phù hợp, từ cải tiến quy trình, thay thế thiết bị tiêu hao nhiều năng lượng đến nghiên cứu sử dụng điện mặt trời hoặc ứng dụng công nghệ giám sát năng lượng. Hiệu quả cần được đánh giá bằng những chỉ số cụ thể, thay vì chỉ dừng ở việc công bố đã thực hiện chuyển đổi xanh.

1wupukqsm0sdbw9njlbq14ieiarupohit4ffxyup61uw0xxsgjzcsah7vif20vc0xzt.jpg
Nỗ lực của từng doanh nghiệp cần được đặt trong một hệ sinh thái hỗ trợ phù hợp. (Ảnh: ĐỖ BẢO)

Công nghệ số có thể hỗ trợ doanh nghiệp theo dõi mức tiêu thụ năng lượng theo dây chuyền, thiết bị hoặc khu vực sản xuất; ghi nhận dữ liệu phát thải; đồng thời phục vụ việc tổng hợp và cung cấp thông tin khi khách hàng yêu cầu.

Dù vậy, phần mềm chỉ có giá trị khi dữ liệu đầu vào đáng tin cậy, phương pháp đo lường phù hợp và quy trình quản trị được thực hiện nhất quán.

Trong thương mại quốc tế, doanh nghiệp cũng cần phân biệt giữa xu hướng chung về phát triển bền vững và các nghĩa vụ cụ thể theo từng thị trường, mặt hàng. Chẳng hạn, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu (CBAM) có phạm vi áp dụng theo quy định đối với những nhóm hàng nhất định, không phải mọi sản phẩm xuất khẩu đều chịu cùng một nghĩa vụ.

Tuy nhiên, yêu cầu về thông tin môi trường, phát thải và nguồn gốc nguyên liệu có thể được truyền dẫn qua chuỗi cung ứng từ khách hàng đến các nhà cung cấp. Vì vậy, doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu yêu cầu của từng đối tác, từng thị trường, tránh cả hai thái cực: Xem nhẹ những tiêu chuẩn có thể ảnh hưởng đến đơn hàng hoặc đầu tư dàn trải vào những hạng mục chưa thực sự cần thiết.

Nỗ lực của từng doanh nghiệp cần được đặt trong một hệ sinh thái hỗ trợ phù hợp. Theo đại diện Hiệp hội sản xuất công nghiệp thành phố Bắc Ninh, sự đồng hành của cơ quan quản lý, hiệp hội và các tập đoàn lớn có vai trò quan trọng trong thúc đẩy mô hình nhà máy thông minh, nâng cao mức độ tự động hóa, phát triển năng lực khuôn mẫu và hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu đầu tư chuyển đổi năng lượng.

Từ thực tiễn tại Bắc Ninh, việc kết nối doanh nghiệp nội địa với các tập đoàn FDI ngay trên địa bàn mở ra cơ hội tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế mà không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc tìm kiếm khách hàng ở thị trường xa.

Tuy nhiên, cơ hội chỉ chuyển thành hợp đồng khi doanh nghiệp hiểu yêu cầu của khách hàng và chứng minh được năng lực bằng kết quả thực tế. Hiệp hội có thể hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin tiêu chuẩn, kết nối đối tác và chia sẻ kinh nghiệm triển khai. Cơ quan quản lý có thể tạo điều kiện về tư vấn, đào tạo và hạ tầng.

Từ thực tiễn tại Bắc Ninh, việc kết nối doanh nghiệp nội địa với các tập đoàn FDI ngay trên địa bàn mở ra cơ hội tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế mà không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc tìm kiếm khách hàng ở thị trường xa.

Các tập đoàn đầu chuỗi có thể giúp nhà cung cấp hiểu rõ yêu cầu kỹ thuật, chất lượng và tiến độ. Trong khi đó, doanh nghiệp cần chủ động đầu tư vào nhân lực, quy trình và dữ liệu.

Có thể bạn quan tâm

Bà Lina Gandløse Hansen, Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam. (Ảnh: HẢI HÀ)

Đan Mạch sẵn sàng đồng hành cùng Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu phát triển điện gió ngoài khơi

Đan Mạch sẵn sàng chia sẻ về những mô hình thành công và những bài học kinh nghiệm phát triển điện gió ngoài khơi để hỗ trợ Việt Nam hiện thực hóa các mục tiêu chuyển dịch năng lượng xanh. Đây là khẳng định của bà Lina Gandløse Hansen, Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam tại cuộc trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Nhân Dân.

Hội thảo tham vấn “Giải pháp dựa vào tự nhiên nhằm phục hồi rừng sau khai thác khoáng sản và cơ hội tham gia thị trường carbon trong tương lai”, ngày 29/9.

Phục hồi rừng sau khai khoáng gắn với cơ hội phát triển thị trường carbon

Phục hồi rừng sau khai thác khoáng sản cần được thực hiện theo hướng dựa vào tự nhiên, gắn với quản lý tài nguyên theo cảnh quan và bảo đảm duy trì các chức năng sinh thái lâu dài. Cùng với đó, phát triển các dự án tín chỉ carbon rừng phù hợp có thể tạo thêm nguồn lực cho công tác phục hồi và quản lý rừng bền vững.

Đại diện JICA, VNUA và Toyo ký kết bàn giao hệ thống thiết bị máy móc. (Ảnh: ANH THƯ)

Thúc đẩy sản xuất điện và phân bón hữu cơ từ các loại rác thải rắn

Ngày 16/9, tại Hà Nội, JICA Việt Nam và Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA) tổ chức hội nghị chia sẻ kết quả và sản phẩm của dự án “Khảo sát tiềm năng phát triển kinh doanh bền vững đối với doanh nghiệp tư nhân trong sản xuất điện và phân bón hữu cơ bằng công nghệ lên men tạo khí mê-tan từ các loại rác thải rắn ở Việt Nam”.

Bất động sản ESG ngày càng có lợi thế cạnh tranh hơn trên thị trường. (Ảnh: Cộng tác viên)

Bất động sản ESG đang trở thành xu thế tất yếu

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nghiêm Thị Thà, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA), bất động sản xanh phát triển theo các tiêu chuẩn ESG (Môi trường-Xã hội-Quản trị) không còn là lựa chọn mang tính tự nguyện mà đang trở thành xu hướng tất yếu của thị trường.

Biến nỗ lực giảm phát thải thành tài sản chiến lược

Biến nỗ lực giảm phát thải thành tài sản chiến lược

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định rõ chủ trương phát triển kinh tế xanh, nông nghiệp sinh thái tuần hoàn gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, chuyển đổi mô hình tăng trưởng vừa là lựa chọn vừa là yêu cầu tất yếu khách quan trước tác động ngày càng gay gắt của biến đổi khí hậu.

Hydro có thể được sản xuất từ năng lượng tái tạo.

Đánh thức nguồn năng lượng mới

Trong xu hướng toàn cầu về giảm phát thải, việc tìm kiếm và khai thác nguồn năng lượng thân thiện môi trường nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia. Một trong các giải pháp đó là năng lượng từ khí hydro (H2; hydrogen) đã được các nhà khoa học nghiên cứu và chứng minh hiệu quả.

Người tiêu dùng sử dụng sản phẩm túi bảo vệ môi trường thay cho túi nylon khi đi mua sắm tại siêu thị. (Ảnh: TÙNG DƯƠNG)

Kinh tế xanh: Từ chính sách đến lựa chọn tiêu dùng

Tiêu dùng xanh ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Khi người tiêu dùng ưu tiên những sản phẩm thân thiện môi trường, tiết kiệm tài nguyên là góp phần giảm áp lực lên môi trường, đồng thời tạo điều kiện và động lực để doanh nghiệp đổi mới sản xuất, hướng tới nền kinh tế xanh.

Dây chuyền chế biến gạo của Công ty TNHH Lúa gạo Việt Nam (Vinarice). (Ảnh: ĐỨC AN)

Gỡ “nút thắt”, gia tăng lợi ích từ lúa phát thải thấp

Giai đoạn 2026-2030, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục mở rộng quy mô. Tuy nhiên, để Đề án mang lại hiệu quả kinh tế thực chất cho nông dân, cần sớm tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải.

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng khẳng định, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định mục tiêu phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững. (Ảnh: VGP/ĐỨC TUÂN)

Việt Nam cụ thể hóa con đường tới Net Zero

Ngày 8/7, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng, Chủ tịch Hội đồng quốc gia về Phát triển bền vững dự và phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn "Năng lượng và môi trường thế giới-Việt Nam 2026" với chủ đề "Việt Nam cụ thể hóa con đường tới Net Zero".

Nhiên liệu hàng không bền vững: Cơ hội và nút thắt của Việt Nam

Nhiên liệu hàng không bền vững: Cơ hội và nút thắt của Việt Nam

Vỏ trấu, mỡ cá tra và dầu ăn đã qua sử dụng đều có thể được sử dụng để sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững. Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia ASEAN có nguồn nguyên liệu dồi dào nhưng đến nay vẫn chưa có nhà máy sản xuất, các hãng hàng không trong nước phải nhập khẩu loại nhiên liệu này với chi phí cao gấp nhiều lần.

Đúng giờ mở cửa thị trường, nguyên Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà cùng các đại biểu đã thực hiện nghi thức khai trương Sàn Giao dịch carbon trong nước, bắt đầu phiên giao dịch đầu tiên của thị trường carbon.. (Ảnh: BTC)

Khơi thông nguồn lực cho kinh tế xanh

Sàn Giao dịch carbon đi vào hoạt động không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, mà còn tạo cơ chế để các doanh nghiệp chủ động tối ưu chi phí giảm phát thải thông qua giao dịch hạn ngạch và tín chỉ carbon.

Nguồn vốn tín dụng xanh đang góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và người dân đầu tư vào các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Tín dụng xanh khó đến doanh nghiệp nhỏ nếu thiếu hệ sinh thái hỗ trợ

Tín dụng xanh đang tăng trưởng nhanh, nhưng việc tiếp cận nguồn vốn này vẫn là thách thức lớn đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo các chuyên gia, để tiếp cận tín dụng xanh, doanh nghiệp không chỉ cần vốn mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về dữ liệu, ESG và chuyển đổi mô hình sản xuất.