Phát triển hạ tầng logistics số và chuyển đổi xanh phục vụ xuất nhập khẩu bền vững ngành công thương

Phát triển hạ tầng logistics đồng bộ, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi xanh đang mở ra yêu cầu mới đối với ngành công thương, hướng tới xây dựng chuỗi cung ứng hiệu quả, giảm chi phí và phục vụ xuất nhập khẩu bền vững.

Ngành logistics Việt Nam đang đứng trước một bước chuyển quan trọng. Theo Bộ Công thương, thị trường logistics trong nước hiện có quy mô khoảng 45-50 tỷ USD, tăng trưởng bình quân 14-16%/năm. Năm 2025, Việt Nam được xếp trong nhóm 10 thị trường logistics mới nổi, top 5 ASEAN và top 40 thế giới về Chỉ số hiệu quả logistics. Tuy nhiên, chi phí logistics còn cao, kết nối hạ tầng chưa đồng bộ, thiếu nhân lực chất lượng cao, trong khi chuyển đổi số và chuyển đổi xanh mới ở giai đoạn đầu.

Hạ tầng logistics trong kỷ nguyên số

Ngày 9/10/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2229/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050. Một trong những yêu cầu xuyên suốt của chiến lược là phát triển kết cấu hạ tầng logistics đồng bộ, hiện đại gắn với liên kết vùng, đồng thời đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

Đến năm 2035, mục tiêu đặt ra là 80% doanh nghiệp logistics sử dụng các giải pháp chuyển đổi số; chi phí logistics so với GDP giảm xuống tương đương 12-15%; dịch vụ logistics phát triển theo hướng giảm phát thải và chuyển sang các nguồn năng lượng xanh. Đây cũng là nền tảng để logistics chuyển từ mô hình vận hành dựa nhiều vào kinh nghiệm sang mô hình dựa trên dữ liệu.

nha-may-lc-foods.jpg
Đến năm 2035, mục tiêu đặt ra là 80% doanh nghiệp logistics sử dụng các giải pháp chuyển đổi số; chi phí logistics so với GDP giảm xuống tương đương 12-15%. (Ảnh: ĐỖ BẢO/KHÁNH SƠN)

Tại Diễn đàn Công nghệ Logistics 2026, các chuyên gia nhận định trí tuệ nhân tạo đang hiện diện ngày càng rõ trong các mắt xích của chuỗi logistics, từ tối ưu tuyến đường, dự báo nhu cầu, quản lý tồn kho đến xử lý chứng từ xuất nhập khẩu và phân tích rủi ro chuỗi cung ứng.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Chương, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển nhân lực Logistics Việt Nam, cho rằng công nghệ đang tái định hình chuỗi cung ứng, đưa logistics từ vai trò hậu cần trở thành một ngành dịch vụ nền tảng của kinh tế số và thương mại hiện đại.

Thực tế tại các doanh nghiệp lớn cho thấy AI và tự động hóa có thể hỗ trợ cập nhật tồn kho, trạng thái đơn hàng theo thời gian thực, dự báo rủi ro và nâng cao hiệu quả ra quyết định. Tuy nhiên, khoảng cách ứng dụng giữa các nhóm doanh nghiệp còn lớn. Doanh nghiệp quy mô lớn, có tiềm lực công nghệ thường đi nhanh hơn, trong khi phần đông doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn mới dừng ở số hóa cơ bản.

Một điểm nghẽn quan trọng là dữ liệu. Khi dữ liệu còn phân tán, thiếu chuẩn hóa và chưa kết nối giữa các khâu, việc ứng dụng AI khó tạo ra giá trị thực chất. Vì vậy, hạ tầng logistics số không chỉ là hệ thống phần mềm hay thiết bị công nghệ, mà còn bao gồm cơ sở dữ liệu, khả năng chia sẻ thông tin và kết nối xuyên suốt giữa doanh nghiệp, cảng, kho bãi, vận tải và các cơ quan quản lý.

Bộ Công thương cũng đã ban hành Kế hoạch chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, trong đó đặt yêu cầu tiếp tục hoàn thiện nền tảng dữ liệu và tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống.

Từ logistics số đến logistics xanh

Hiện logistics là một trong những lĩnh vực tiêu thụ nhiều năng lượng và phát sinh khí thải lớn; việc phát triển logistics xanh vì vậy có ý nghĩa trực tiếp đối với quá trình xanh hóa chuỗi cung ứng và phát triển bền vững.

Tại Việt Nam, yêu cầu này càng rõ khi hàng hóa xuất khẩu ngày càng phải đáp ứng những tiêu chuẩn cao hơn về môi trường và phát thải. Một chuỗi cung ứng hiệu quả không chỉ cần đưa hàng hóa đến đúng nơi, đúng thời gian, mà còn phải chứng minh được mức độ sử dụng năng lượng, phát thải và khả năng đáp ứng các yêu cầu xanh của thị trường.

Ở góc độ hạ tầng, việc phát triển các trung tâm logistics cấp vùng, kết nối cảng biển, cảng cạn, đường sắt, đường bộ và đường thủy có thể giúp tối ưu phương thức vận tải, giảm quãng đường vận chuyển và thời gian chờ. Cùng với đó là kho thông minh, kho lạnh tiết kiệm năng lượng, phương tiện sử dụng nhiên liệu sạch và hệ thống quản lý phát thải.

Ông Nguyễn Duy Minh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam cho rằng, phát triển các trung tâm logistics cấp tỉnh và cấp vùng có ý nghĩa trong tối ưu các phương thức vận tải, qua đó vừa giảm chi phí cho doanh nghiệp, vừa góp phần giảm phát thải.

nestle.png
Việc phát triển logistics xanh vì vậy có ý nghĩa trực tiếp đối với quá trình xanh hóa chuỗi cung ứng và phát triển bền vững. (Ảnh: ĐỖ BẢO/KHÁNH SƠN)

Chiến lược phát triển logistics mới đã đặt chuyển đổi số và chuyển đổi xanh cùng trong một hệ thống giải pháp. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu phát triển của thương mại quốc tế, khi năng lực cạnh tranh của hàng hóa không còn chỉ được quyết định tại nhà máy mà còn phụ thuộc vào toàn bộ chuỗi cung ứng phía sau.

Theo Bộ Công thương, Chiến lược 2025-2035 cũng đặt mục tiêu hình thành ít nhất 5 trung tâm dịch vụ logistics hiện đại ngang tầm quốc tế vào năm 2035 và ít nhất 10 trung tâm vào năm 2050.

Để hiện thực hóa các mục tiêu này, cùng với đầu tư hạ tầng cứng cần chú trọng xây dựng hạ tầng dữ liệu, tiêu chuẩn kết nối và hệ thống đo lường phát thải.

Doanh nghiệp cần có những công cụ đủ rõ để biết một tuyến vận tải, kho hàng hay phương tiện đang tiêu thụ bao nhiêu năng lượng, phát thải bao nhiêu và có thể giảm được bao nhiêu. Ở cấp độ doanh nghiệp, quá trình chuyển đổi cũng không nhất thiết bắt đầu bằng những khoản đầu tư công nghệ lớn. Những bài toán cụ thể như số hóa chứng từ, quản trị kho, tối ưu tuyến vận tải, theo dõi đơn hàng theo thời gian thực hay kiểm soát tiêu thụ năng lượng có thể tạo nền tảng để tiến tới những hệ thống lớn hơn.

Có thể bạn quan tâm

Đại diện JICA, VNUA và Toyo ký kết bàn giao hệ thống thiết bị máy móc. (Ảnh: ANH THƯ)

Thúc đẩy sản xuất điện và phân bón hữu cơ từ các loại rác thải rắn

Ngày 16/9, tại Hà Nội, JICA Việt Nam và Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA) tổ chức hội nghị chia sẻ kết quả và sản phẩm của dự án “Khảo sát tiềm năng phát triển kinh doanh bền vững đối với doanh nghiệp tư nhân trong sản xuất điện và phân bón hữu cơ bằng công nghệ lên men tạo khí mê-tan từ các loại rác thải rắn ở Việt Nam”.

Bất động sản ESG ngày càng có lợi thế cạnh tranh hơn trên thị trường. (Ảnh: Cộng tác viên)

Bất động sản ESG đang trở thành xu thế tất yếu

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nghiêm Thị Thà, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA), bất động sản xanh phát triển theo các tiêu chuẩn ESG (Môi trường-Xã hội-Quản trị) không còn là lựa chọn mang tính tự nguyện mà đang trở thành xu hướng tất yếu của thị trường.

Biến nỗ lực giảm phát thải thành tài sản chiến lược

Biến nỗ lực giảm phát thải thành tài sản chiến lược

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định rõ chủ trương phát triển kinh tế xanh, nông nghiệp sinh thái tuần hoàn gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, chuyển đổi mô hình tăng trưởng vừa là lựa chọn vừa là yêu cầu tất yếu khách quan trước tác động ngày càng gay gắt của biến đổi khí hậu.

Hydro có thể được sản xuất từ năng lượng tái tạo.

Đánh thức nguồn năng lượng mới

Trong xu hướng toàn cầu về giảm phát thải, việc tìm kiếm và khai thác nguồn năng lượng thân thiện môi trường nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia. Một trong các giải pháp đó là năng lượng từ khí hydro (H2; hydrogen) đã được các nhà khoa học nghiên cứu và chứng minh hiệu quả.

Người tiêu dùng sử dụng sản phẩm túi bảo vệ môi trường thay cho túi nylon khi đi mua sắm tại siêu thị. (Ảnh: TÙNG DƯƠNG)

Kinh tế xanh: Từ chính sách đến lựa chọn tiêu dùng

Tiêu dùng xanh ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Khi người tiêu dùng ưu tiên những sản phẩm thân thiện môi trường, tiết kiệm tài nguyên là góp phần giảm áp lực lên môi trường, đồng thời tạo điều kiện và động lực để doanh nghiệp đổi mới sản xuất, hướng tới nền kinh tế xanh.

Các doanh nghiệp mang tới sự kiện các giải pháp vật liệu nhẹ và bền vững. (Ảnh: THÙY LINH)

Vật liệu xanh: Xu hướng tất yếu trong kỷ nguyên Net Zero

Ngành vật liệu xây dựng đang đứng trước bước chuyển mang tính lịch sử. Nếu trước đây giá thành, chất lượng và năng lực sản xuất là những yếu tố quyết định sức cạnh tranh, thì nay hàm lượng vật liệu tái chế và mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn ESG đang trở thành tiêu chí quan trọng để ngành xây dựng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Dây chuyền chế biến gạo của Công ty TNHH Lúa gạo Việt Nam (Vinarice). (Ảnh: ĐỨC AN)

Gỡ “nút thắt”, gia tăng lợi ích từ lúa phát thải thấp

Giai đoạn 2026-2030, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục mở rộng quy mô. Tuy nhiên, để Đề án mang lại hiệu quả kinh tế thực chất cho nông dân, cần sớm tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải.

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng khẳng định, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định mục tiêu phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững. (Ảnh: VGP/ĐỨC TUÂN)

Việt Nam cụ thể hóa con đường tới Net Zero

Ngày 8/7, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng, Chủ tịch Hội đồng quốc gia về Phát triển bền vững dự và phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn "Năng lượng và môi trường thế giới-Việt Nam 2026" với chủ đề "Việt Nam cụ thể hóa con đường tới Net Zero".

Nhiên liệu hàng không bền vững: Cơ hội và nút thắt của Việt Nam

Nhiên liệu hàng không bền vững: Cơ hội và nút thắt của Việt Nam

Vỏ trấu, mỡ cá tra và dầu ăn đã qua sử dụng đều có thể được sử dụng để sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững. Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia ASEAN có nguồn nguyên liệu dồi dào nhưng đến nay vẫn chưa có nhà máy sản xuất, các hãng hàng không trong nước phải nhập khẩu loại nhiên liệu này với chi phí cao gấp nhiều lần.

Đúng giờ mở cửa thị trường, nguyên Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà cùng các đại biểu đã thực hiện nghi thức khai trương Sàn Giao dịch carbon trong nước, bắt đầu phiên giao dịch đầu tiên của thị trường carbon.. (Ảnh: BTC)

Khơi thông nguồn lực cho kinh tế xanh

Sàn Giao dịch carbon đi vào hoạt động không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, mà còn tạo cơ chế để các doanh nghiệp chủ động tối ưu chi phí giảm phát thải thông qua giao dịch hạn ngạch và tín chỉ carbon.

Nguồn vốn tín dụng xanh đang góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và người dân đầu tư vào các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Tín dụng xanh khó đến doanh nghiệp nhỏ nếu thiếu hệ sinh thái hỗ trợ

Tín dụng xanh đang tăng trưởng nhanh, nhưng việc tiếp cận nguồn vốn này vẫn là thách thức lớn đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo các chuyên gia, để tiếp cận tín dụng xanh, doanh nghiệp không chỉ cần vốn mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về dữ liệu, ESG và chuyển đổi mô hình sản xuất.

ESG và chuỗi cung ứng xanh: Chìa khóa hút FDI thế hệ mới.

ESG và chuỗi cung ứng xanh: Chìa khóa hút FDI thế hệ mới

Cuộc cạnh tranh thu hút dòng vốn FDI đang bước sang một giai đoạn mới, khi chi phí lao động thấp hay các ưu đãi về đất đai, thuế suất không còn là lợi thế thì năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị doanh nghiệp) đang trở thành yếu tố quyết định để đón dòng vốn FDI chất lượng cao.

Chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn xanh toàn cầu.

Chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn xanh toàn cầu

Những yêu cầu ngày càng khắt khe về phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn ESG đang tạo ra áp lực chưa từng có đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chủ động tái cấu trúc, đẩy mạnh chuyển đổi số và quản trị phát thải nhằm từng bước tham gia sâu vào chuỗi phát triển bền vững toàn cầu.

Hiện tỉnh Sơn La có 58 hợp tác xã nông nghiệp có mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu.

Chuyển đổi xanh mở lối cho nông nghiệp Sơn La phát triển bền vững

Tỉnh Sơn La đang khẳng định vị thế là địa phương đi đầu trong phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn và chuyển đổi số. Những mô hình hợp tác xã, doanh nghiệp tiên phong chế biến nông sản, tư duy sản xuất theo hướng bền vững đã góp phần nâng cao giá trị nông sản, bảo vệ môi trường, tăng thu nhập cho người dân.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao

Trên hành trình hướng tới phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, xây dựng được xem là lĩnh vực then chốt cần chuyển đổi mạnh mẽ. Không chỉ quy mô tiêu thụ tài nguyên khổng lồ, mà còn bởi lượng phát thải chiếm tỷ trọng lớn. Những nghiên cứu về vật liệu xây dựng xanh không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu.