Áp lực CBAM và ESG: Doanh nghiệp phải thay đổi để giữ thị trường xuất khẩu

Cùng với các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG), cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) đang thiết lập "luật chơi" mới trong thương mại toàn cầu, buộc doanh nghiệp xuất khẩu phải thay đổi nếu muốn tiếp tục tham gia chuỗi cung ứng quốc tế.

Trong bối cảnh Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của EU tại ASEAN, “né” CBAM gần như là điều bất khả thi. (Ảnh: ĐỖ BẢO)
Trong bối cảnh Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của EU tại ASEAN, “né” CBAM gần như là điều bất khả thi. (Ảnh: ĐỖ BẢO)

Phát thải carbon và dữ liệu môi trường đang dần trở thành "hộ chiếu thương mại" của hàng hóa. Nếu trước đây doanh nghiệp cạnh tranh bằng giá thành, chất lượng hay năng suất thì nay, năng lực quản trị phát thải và minh bạch dữ liệu carbon sẽ quyết định khả năng tiếp cận thị trường.

Theo PGS,TS Nguyễn Ngọc Hà, Viện trưởng Viện Nghiên cứu sáng tạo, Trường đại học Ngoại thương, cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) không còn là chính sách riêng của Liên minh châu Âu (EU) mà đang mở đầu cho xu hướng hình thành các cơ chế điều chỉnh biên giới carbon trên phạm vi toàn cầu.

Ngoài EU, Vương quốc Anh sẽ áp dụng CBAM từ năm 2027; Australia đang ưu tiên xây dựng cơ chế đối với xi-măng và clinker; Hoa Kỳ, Canada và Đài Loan (Trung Quốc) cũng đang nghiên cứu hoặc xây dựng các công cụ tương tự. Điều này cho thấy carbon đang trở thành một yếu tố mới trong cạnh tranh thương mại quốc tế.

Theo lộ trình của EU, từ năm 2026, các nhà nhập khẩu phải kê khai lượng phát thải gắn trong sản phẩm và nộp chứng chỉ CBAM tương ứng với lượng phát thải đó. Muốn được khấu trừ chi phí carbon, doanh nghiệp xuất khẩu phải chứng minh được lượng phát thải thông qua hệ thống đo lường, báo cáo và kiểm chứng (MRV) minh bạch, được xác minh độc lập. Đây là thay đổi căn bản so với trước đây khi phần lớn doanh nghiệp chỉ cần đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng và kỹ thuật.

PGS,TS Nguyễn Ngọc Hà cho rằng giai đoạn 2026-2028 sẽ mang tính quyết định đối với doanh nghiệp Việt Nam. Nếu trước đây dữ liệu carbon chỉ là thông tin tham khảo thì trong thời gian tới, dữ liệu phát thải phải được chuẩn bị trước cả khi ký kết hợp đồng xuất khẩu. Điều đó đồng nghĩa doanh nghiệp phải đầu tư xây dựng hệ thống quản trị phát thải ngay từ bây giờ thay vì chờ đến khi chính sách có hiệu lực.

Áp dụng CBAM, thế giới đang thay đổi "luật chơi"

Theo các chuyên gia, điều đáng lưu ý là doanh nghiệp không nên nhìn cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) như một rào cản thương mại đơn lẻ. Thực tế, đây chỉ là một phần trong xu hướng chuyển dịch rộng lớn hơn của kinh tế toàn cầu, nơi các tiêu chuẩn ESG, truy xuất nguồn gốc, minh bạch dữ liệu và phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu bắt buộc.

Khảo sát hơn 400 doanh nghiệp thuộc bốn ngành trọng điểm do Hội đồng Doanh nghiệp vì sự Phát triển bền vững Việt Nam (VBCSD-VCCI) thực hiện cho thấy, động lực lớn nhất thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi hiện nay không phải từ quy định trong nước mà đến từ yêu cầu của nhà đầu tư, các thị trường xuất khẩu và chuỗi cung ứng toàn cầu. ESG vì thế không còn được xem là "chi phí tuân thủ" mà đang trở thành khoản đầu tư chiến lược để duy trì năng lực cạnh tranh.

z4867579001890-a7c36325e964b2497d57ee513dfe4ec4.jpg
Trong bối cảnh Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của EU tại ASEAN, “né” CBAM gần như là điều bất khả thi. (Ảnh: ĐỖ BẢO)

Tuy nhiên, khoảng cách giữa yêu cầu của thị trường và năng lực thực tế của doanh nghiệp vẫn còn khá lớn. Có tới 59% doanh nghiệp chưa có bộ phận chuyên trách về ESG; 55% gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn xanh; hơn một nửa chưa sẵn sàng về công nghệ và chỉ khoảng 5,6% doanh nghiệp đã triển khai thành công các công nghệ giảm phát thải. Những con số này cho thấy thách thức lớn nhất hiện nay không còn là nhận thức mà là năng lực thực thi.

Theo bà Phạm Minh Hương, Giám đốc Dịch vụ Phát triển bền vững của Deloitte Việt Nam, ngành xây dựng đang chịu sức ép đồng thời từ nhiều phía: khung pháp lý liên tục thay đổi, yêu cầu kiểm kê khí nhà kính, dán nhãn xanh, CBAM, kỳ vọng của khách hàng và nhà đầu tư cũng như áp lực giảm phát thải trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy "báo cáo để tuân thủ" sang tư duy "kiến tạo giá trị", coi ESG là một phần trong chiến lược kinh doanh thay vì chỉ là nhiệm vụ đáp ứng quy định.

Báo cáo của Deloitte cũng chỉ ra bốn xu hướng đang định hình ngành xây dựng toàn cầu, gồm chi phí vật liệu gia tăng, dòng vốn dịch chuyển sang hạ tầng dữ liệu và năng lượng, tăng tốc chuyển đổi số nhờ AI và BIM, cùng với tình trạng thiếu hụt lao động có tay nghề.

Những xu hướng này đều cho thấy năng lực cạnh tranh trong tương lai sẽ không chỉ phụ thuộc vào quy mô sản xuất mà còn gắn chặt với năng lực chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.

Doanh nghiệp sẵn sàng để không bị loại khỏi cuộc chơi

Theo các chuyên gia, tác động của CBAM sẽ không dừng ở các ngành nằm trong phạm vi áp dụng ban đầu như thép, xi-măng, nhôm hay phân bón. Khi nhiều quốc gia tiếp tục mở rộng các cơ chế điều chỉnh carbon, áp lực sẽ lan sang các ngành vật liệu xây dựng, cơ khí, sản phẩm chế biến và nhiều lĩnh vực xuất khẩu khác.

Muốn duy trì vị thế trên thị trường quốc tế, doanh nghiệp cần chủ động xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu phát thải, thực hiện kiểm kê khí nhà kính, đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng, nâng cao tỷ lệ sử dụng vật liệu tái chế và minh bạch toàn bộ chuỗi cung ứng. Đây không chỉ là điều kiện để đáp ứng CBAM mà còn giúp doanh nghiệp tiếp cận tín dụng xanh, thu hút đầu tư và nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động của thị trường.

4444.jpg
ESG đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp muốn duy trì tính cạnh tranh, thu hút nhà đầu tư và phát triển bền vững. (Ảnh: ĐỖ BẢO)

Các chuyên gia cũng nhấn mạnh, quá trình chuyển đổi sẽ không thể thành công nếu chỉ dựa vào nỗ lực của doanh nghiệp. Cần sớm hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, cơ chế tài chính xanh, nền tảng đo lường và kiểm chứng phát thải, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, nâng cao năng lực thực thi ESG.

Khi phát triển bền vững trở thành tiêu chuẩn chung của thương mại toàn cầu, việc thích ứng sớm không chỉ giúp doanh nghiệp vượt qua các rào cản carbon mà còn mở ra cơ hội tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị quốc tế có giá trị gia tăng cao.

Có thể bạn quan tâm

Dây chuyền chế biến gạo của Công ty TNHH Lúa gạo Việt Nam (Vinarice). (Ảnh: ĐỨC AN)

Gỡ “nút thắt”, gia tăng lợi ích từ lúa phát thải thấp

Giai đoạn 2026-2030, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục mở rộng quy mô. Tuy nhiên, để Đề án mang lại hiệu quả kinh tế thực chất cho nông dân, cần sớm tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải.

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng khẳng định, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định mục tiêu phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững. (Ảnh: VGP/ĐỨC TUÂN)

Việt Nam cụ thể hóa con đường tới Net Zero

Ngày 8/7, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng, Chủ tịch Hội đồng quốc gia về Phát triển bền vững dự và phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn "Năng lượng và môi trường thế giới-Việt Nam 2026" với chủ đề "Việt Nam cụ thể hóa con đường tới Net Zero".

Nhiên liệu hàng không bền vững: Cơ hội và nút thắt của Việt Nam

Nhiên liệu hàng không bền vững: Cơ hội và nút thắt của Việt Nam

Vỏ trấu, mỡ cá tra và dầu ăn đã qua sử dụng đều có thể được sử dụng để sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững. Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia ASEAN có nguồn nguyên liệu dồi dào nhưng đến nay vẫn chưa có nhà máy sản xuất, các hãng hàng không trong nước phải nhập khẩu loại nhiên liệu này với chi phí cao gấp nhiều lần.

Đúng giờ mở cửa thị trường, nguyên Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà cùng các đại biểu đã thực hiện nghi thức khai trương Sàn Giao dịch carbon trong nước, bắt đầu phiên giao dịch đầu tiên của thị trường carbon.. (Ảnh: BTC)

Khơi thông nguồn lực cho kinh tế xanh

Sàn Giao dịch carbon đi vào hoạt động không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, mà còn tạo cơ chế để các doanh nghiệp chủ động tối ưu chi phí giảm phát thải thông qua giao dịch hạn ngạch và tín chỉ carbon.

Nguồn vốn tín dụng xanh đang góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và người dân đầu tư vào các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Tín dụng xanh khó đến doanh nghiệp nhỏ nếu thiếu hệ sinh thái hỗ trợ

Tín dụng xanh đang tăng trưởng nhanh, nhưng việc tiếp cận nguồn vốn này vẫn là thách thức lớn đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo các chuyên gia, để tiếp cận tín dụng xanh, doanh nghiệp không chỉ cần vốn mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về dữ liệu, ESG và chuyển đổi mô hình sản xuất.

ESG và chuỗi cung ứng xanh: Chìa khóa hút FDI thế hệ mới.

ESG và chuỗi cung ứng xanh: Chìa khóa hút FDI thế hệ mới

Cuộc cạnh tranh thu hút dòng vốn FDI đang bước sang một giai đoạn mới, khi chi phí lao động thấp hay các ưu đãi về đất đai, thuế suất không còn là lợi thế thì năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị doanh nghiệp) đang trở thành yếu tố quyết định để đón dòng vốn FDI chất lượng cao.

Chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn xanh toàn cầu.

Chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn xanh toàn cầu

Những yêu cầu ngày càng khắt khe về phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn ESG đang tạo ra áp lực chưa từng có đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chủ động tái cấu trúc, đẩy mạnh chuyển đổi số và quản trị phát thải nhằm từng bước tham gia sâu vào chuỗi phát triển bền vững toàn cầu.

Hiện tỉnh Sơn La có 58 hợp tác xã nông nghiệp có mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu.

Chuyển đổi xanh mở lối cho nông nghiệp Sơn La phát triển bền vững

Tỉnh Sơn La đang khẳng định vị thế là địa phương đi đầu trong phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn và chuyển đổi số. Những mô hình hợp tác xã, doanh nghiệp tiên phong chế biến nông sản, tư duy sản xuất theo hướng bền vững đã góp phần nâng cao giá trị nông sản, bảo vệ môi trường, tăng thu nhập cho người dân.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao

Trên hành trình hướng tới phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, xây dựng được xem là lĩnh vực then chốt cần chuyển đổi mạnh mẽ. Không chỉ quy mô tiêu thụ tài nguyên khổng lồ, mà còn bởi lượng phát thải chiếm tỷ trọng lớn. Những nghiên cứu về vật liệu xây dựng xanh không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu.

Việt Nam cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. (Ảnh: Netzero.vn)

Net Zero và cơ hội tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam

Cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 thường được nhìn nhận như một mục tiêu khí hậu hay nghĩa vụ quốc tế. Nhưng ở góc độ phát triển, Net Zero còn là cơ hội để Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và kiến tạo những động lực phát triển mới cho nền kinh tế.

Sản phẩm vật liệu xanh được Công ty Xi-măng Sông Thao phân phối ra thị trường.

Khơi thông tiềm năng vật liệu xanh, bền vững

Xanh hóa vật liệu cho ngành xây dựng mang lại lợi ích kinh tế, đồng thời là giải pháp hữu hiệu nhằm giảm phát thải, hướng tới nền kinh tế xanh, bền vững. Thời gian qua, các công trình nghiên cứu, thử nghiệm về loại vật liệu này đã cho thấy tính khả thi cao và có nhiều tiềm năng ứng dụng trong thi công.