Nông nghiệp tái sinh mở hướng phát triển bền vững cho ngành cà-phê Việt Nam

Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu liên tục nâng cao tiêu chuẩn về phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải khí nhà kính, nông nghiệp tái sinh đang nổi lên như một hướng đi quan trọng, giúp ngành cà-phê Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời gia tăng giá trị cho người sản xuất.

Nông nghiệp tái sinh mở hướng phát triển bền vững cho ngành cà-phê Việt Nam.
Nông nghiệp tái sinh mở hướng phát triển bền vững cho ngành cà-phê Việt Nam.

Tại Hội thảo "Nông nghiệp tái sinh, hướng đi bền vững cho nông nghiệp Việt Nam", nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế nhận định, chuyển đổi sang mô hình sản xuất tái sinh không còn là lựa chọn mang tính khuyến khích mà đang dần trở thành yêu cầu tất yếu để nông sản Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường toàn cầu. Ông Wouter Melis Van Ravenhorst, Giám đốc Control Union Việt Nam, cho biết Việt Nam là quốc gia có nhiều lợi thế về nông nghiệp, song cũng đang chịu sức ép ngày càng lớn từ các "rào cản xanh" của các thị trường xuất khẩu. Các yêu cầu về giảm phát thải, bảo vệ đa dạng sinh học, chống mất rừng và truy xuất nguồn gốc đang trở thành điều kiện bắt buộc đối với nhiều mặt hàng nông sản.

Theo ông Wouter, nông nghiệp tái sinh là giải pháp góp phần phục hồi hệ sinh thái, cải thiện sức khỏe đất, giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao giá trị nông sản trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Cùng quan điểm, bà Hoàng Thị Thu Hương, cán bộ dự án cấp cao của GIZ cho rằng, điểm cốt lõi của nông nghiệp tái sinh là phục hồi các nguồn tài nguyên tự nhiên thay vì chỉ tập trung tối đa hóa sản lượng.

Theo Đề án "Sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025 đến 2035, tầm nhìn đến năm 2050" của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cà-phê được xác định là một trong những ngành hàng có nhiều tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính, cùng với lúa, mía, khoai mì và chuối. Bà Hương nhận định, việc chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp tái sinh sẽ giúp ngành cà-phê đáp ứng các quy định mới của thị trường quốc tế, trong đó có Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR); đồng thời tạo cơ hội tham gia thị trường tín chỉ carbon trong tương lai, mở thêm nguồn thu cho người sản xuất.

anh-1.jpg
Ông Phạm Phú Ngọc chia sẻ về hành trình của chương trình Nescafé Plan trong hỗ trợ nông dân chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp tái sinh.

Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã chủ động phối hợp người nông dân triển khai các mô hình canh tác theo hướng tái sinh. Trong đó, Chương trình Nescafé Plan do Nestlé Việt Nam triển khai từ năm 2011 được xem là một trong những sáng kiến thúc đẩy chuyển đổi sản xuất cà phê theo hướng bền vững tại khu vực Tây Nguyên. Theo ông Phạm Phú Ngọc, Trưởng Chi nhánh Công ty Nestlé Việt Nam tại Tây Nguyên, Giám đốc Chương trình Phát triển Nông nghiệp: Thách thức lớn nhất trong quá trình chuyển đổi không nằm ở kỹ thuật mà ở việc giúp người nông dân tiếp cận những khái niệm mới theo cách dễ hiểu và có thể áp dụng ngay trong thực tế sản xuất. Theo đó, các nguyên tắc của nông nghiệp tái sinh được cụ thể hóa thành ba nhóm thực hành chính gồm quản lý đất, quản lý nước và bảo tồn đa dạng sinh học.

Đối với đất, người dân được hướng dẫn duy trì thảm thực vật che phủ, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất phân hữu cơ và bón phân cân đối. Các giải pháp này giúp giảm từ 20-40% lượng phân bón hóa học; đồng thời cải thiện độ phì nhiêu của đất và giảm chi phí sản xuất. Về nước, người trồng cà-phê được hướng dẫn theo dõi độ ẩm đất và xác định đúng nhu cầu tưới của cây. Nhờ đó, lượng nước tưới có thể giảm từ khoảng 700-1.000 lít xuống còn khoảng 400 lít cho mỗi gốc cà-phê mà vẫn bảo đảm năng suất.

anh-2.jpg
Cán bộ kỹ thuật Nescafé Plan hướng dẫn nông dân thực hành cải tạo đất tại vườn cà-phê - một trong ba nhóm thực hành cốt lõi của mô hình nông nghiệp tái sinh.

Bên cạnh đó, đa dạng sinh học được tăng cường thông qua các mô hình trồng xen và nông lâm kết hợp. Việc kết hợp trồng cà-phê với hồ tiêu hoặc cây ăn quả không chỉ tạo bóng mát, cải thiện hệ sinh thái mà còn giúp người dân đa dạng hóa nguồn thu trên cùng diện tích canh tác. Không chỉ mang lại lợi ích về môi trường, nông nghiệp tái sinh còn tạo hiệu quả kinh tế rõ nét cho người sản xuất. Theo ghi nhận từ chương trình, thu nhập của nông hộ có thể tăng từ 30-150% so mô hình chuyên canh cà-phê nhờ giảm chi phí đầu vào và gia tăng nguồn thu từ cây trồng xen.

Hiệu quả này được minh chứng tại mô hình canh tác của bà Mai Thị Nhung ở Đắk Lắk. Trên diện tích 2ha cà-phê trồng xen hồ tiêu và sầu riêng, kết hợp ứng dụng công cụ quản lý kinh tế nông hộ dựa trên dữ liệu số, gia đình bà đạt lợi nhuận hơn 1,2 tỷ đồng mỗi vụ. Theo ông Nguyễn Văn Thiết, Quản lý Văn phòng Rainforest Alliance tại Việt Nam, đây là thời điểm thuận lợi để ngành cà-phê Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi theo hướng phát triển bền vững nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.

Ông cho rằng, một trang trại tái sinh không chỉ tạo ra nông sản mà còn góp phần phục hồi hệ sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học và xây dựng mối quan hệ hài hòa hơn giữa con người với thiên nhiên. "Đất không chỉ là tư liệu sản xuất mà cần được coi là một đối tác. Khi đó, người nông dân không chỉ khai thác mà còn đầu tư để đất ngày càng khỏe hơn, màu mỡ hơn cho những mùa vụ tiếp theo", ông Nguyễn Văn Thiết nhấn mạnh.

Các chuyên gia nhận định, trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh và các quy định về phát triển bền vững ngày càng phổ biến trên thế giới, chuyển đổi sang nông nghiệp tái sinh sẽ không chỉ giúp ngành cà-phê Việt Nam vượt qua các rào cản thương mại mới mà còn tạo nền tảng để nâng cao giá trị gia tăng, xây dựng thương hiệu cà-phê Việt Nam theo hướng phát triển bền vững trong dài hạn.

Có thể bạn quan tâm

Hydro có thể được sản xuất từ năng lượng tái tạo.

Đánh thức nguồn năng lượng mới

Trong xu hướng toàn cầu về giảm phát thải, việc tìm kiếm và khai thác nguồn năng lượng thân thiện môi trường nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia. Một trong các giải pháp đó là năng lượng từ khí hydro (H2; hydrogen) đã được các nhà khoa học nghiên cứu và chứng minh hiệu quả.

Người tiêu dùng sử dụng sản phẩm túi bảo vệ môi trường thay cho túi nylon khi đi mua sắm tại siêu thị. (Ảnh: TÙNG DƯƠNG)

Kinh tế xanh: Từ chính sách đến lựa chọn tiêu dùng

Tiêu dùng xanh ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Khi người tiêu dùng ưu tiên những sản phẩm thân thiện môi trường, tiết kiệm tài nguyên là góp phần giảm áp lực lên môi trường, đồng thời tạo điều kiện và động lực để doanh nghiệp đổi mới sản xuất, hướng tới nền kinh tế xanh.

Các doanh nghiệp mang tới sự kiện các giải pháp vật liệu nhẹ và bền vững. (Ảnh: THÙY LINH)

Vật liệu xanh: Xu hướng tất yếu trong kỷ nguyên Net Zero

Ngành vật liệu xây dựng đang đứng trước bước chuyển mang tính lịch sử. Nếu trước đây giá thành, chất lượng và năng lực sản xuất là những yếu tố quyết định sức cạnh tranh, thì nay hàm lượng vật liệu tái chế và mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn ESG đang trở thành tiêu chí quan trọng để ngành xây dựng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Dây chuyền chế biến gạo của Công ty TNHH Lúa gạo Việt Nam (Vinarice). (Ảnh: ĐỨC AN)

Gỡ “nút thắt”, gia tăng lợi ích từ lúa phát thải thấp

Giai đoạn 2026-2030, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục mở rộng quy mô. Tuy nhiên, để Đề án mang lại hiệu quả kinh tế thực chất cho nông dân, cần sớm tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải.

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng khẳng định, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định mục tiêu phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững. (Ảnh: VGP/ĐỨC TUÂN)

Việt Nam cụ thể hóa con đường tới Net Zero

Ngày 8/7, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng, Chủ tịch Hội đồng quốc gia về Phát triển bền vững dự và phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn "Năng lượng và môi trường thế giới-Việt Nam 2026" với chủ đề "Việt Nam cụ thể hóa con đường tới Net Zero".

Nhiên liệu hàng không bền vững: Cơ hội và nút thắt của Việt Nam

Nhiên liệu hàng không bền vững: Cơ hội và nút thắt của Việt Nam

Vỏ trấu, mỡ cá tra và dầu ăn đã qua sử dụng đều có thể được sử dụng để sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững. Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia ASEAN có nguồn nguyên liệu dồi dào nhưng đến nay vẫn chưa có nhà máy sản xuất, các hãng hàng không trong nước phải nhập khẩu loại nhiên liệu này với chi phí cao gấp nhiều lần.

Đúng giờ mở cửa thị trường, nguyên Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà cùng các đại biểu đã thực hiện nghi thức khai trương Sàn Giao dịch carbon trong nước, bắt đầu phiên giao dịch đầu tiên của thị trường carbon.. (Ảnh: BTC)

Khơi thông nguồn lực cho kinh tế xanh

Sàn Giao dịch carbon đi vào hoạt động không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, mà còn tạo cơ chế để các doanh nghiệp chủ động tối ưu chi phí giảm phát thải thông qua giao dịch hạn ngạch và tín chỉ carbon.

Nguồn vốn tín dụng xanh đang góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và người dân đầu tư vào các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Tín dụng xanh khó đến doanh nghiệp nhỏ nếu thiếu hệ sinh thái hỗ trợ

Tín dụng xanh đang tăng trưởng nhanh, nhưng việc tiếp cận nguồn vốn này vẫn là thách thức lớn đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo các chuyên gia, để tiếp cận tín dụng xanh, doanh nghiệp không chỉ cần vốn mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về dữ liệu, ESG và chuyển đổi mô hình sản xuất.

ESG và chuỗi cung ứng xanh: Chìa khóa hút FDI thế hệ mới.

ESG và chuỗi cung ứng xanh: Chìa khóa hút FDI thế hệ mới

Cuộc cạnh tranh thu hút dòng vốn FDI đang bước sang một giai đoạn mới, khi chi phí lao động thấp hay các ưu đãi về đất đai, thuế suất không còn là lợi thế thì năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị doanh nghiệp) đang trở thành yếu tố quyết định để đón dòng vốn FDI chất lượng cao.

Chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn xanh toàn cầu.

Chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn xanh toàn cầu

Những yêu cầu ngày càng khắt khe về phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn ESG đang tạo ra áp lực chưa từng có đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chủ động tái cấu trúc, đẩy mạnh chuyển đổi số và quản trị phát thải nhằm từng bước tham gia sâu vào chuỗi phát triển bền vững toàn cầu.

Hiện tỉnh Sơn La có 58 hợp tác xã nông nghiệp có mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu.

Chuyển đổi xanh mở lối cho nông nghiệp Sơn La phát triển bền vững

Tỉnh Sơn La đang khẳng định vị thế là địa phương đi đầu trong phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn và chuyển đổi số. Những mô hình hợp tác xã, doanh nghiệp tiên phong chế biến nông sản, tư duy sản xuất theo hướng bền vững đã góp phần nâng cao giá trị nông sản, bảo vệ môi trường, tăng thu nhập cho người dân.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao

Trên hành trình hướng tới phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, xây dựng được xem là lĩnh vực then chốt cần chuyển đổi mạnh mẽ. Không chỉ quy mô tiêu thụ tài nguyên khổng lồ, mà còn bởi lượng phát thải chiếm tỷ trọng lớn. Những nghiên cứu về vật liệu xây dựng xanh không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu.

Việt Nam cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. (Ảnh: Netzero.vn)

Net Zero và cơ hội tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam

Cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 thường được nhìn nhận như một mục tiêu khí hậu hay nghĩa vụ quốc tế. Nhưng ở góc độ phát triển, Net Zero còn là cơ hội để Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và kiến tạo những động lực phát triển mới cho nền kinh tế.