ESG và chuỗi cung ứng xanh: Chìa khóa hút FDI thế hệ mới

Cuộc cạnh tranh thu hút dòng vốn FDI đang bước sang một giai đoạn mới, khi chi phí lao động thấp hay các ưu đãi về đất đai, thuế suất không còn là lợi thế thì năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị doanh nghiệp) đang trở thành yếu tố quyết định để đón dòng vốn FDI chất lượng cao.

ESG trở thành "tấm hộ chiếu" tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu

Những năm gần đây, các tập đoàn đa quốc gia không chỉ yêu cầu bản thân doanh nghiệp giảm phát thải mà còn đặt mục tiêu giảm phát thải đối với toàn bộ chuỗi cung ứng, từ nhà cung cấp cấp một, cấp hai cho tới các đơn vị hậu cần liên quan. Thực tế, nhiều khách hàng tại châu Âu, Bắc Mỹ và Australia đã yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam cung cấp dữ liệu phát thải carbon ngay từ giai đoạn đàm phán hợp đồng.

Không ít doanh nghiệp phải thực hiện báo cáo phát triển bền vững định kỳ như một phần trong hồ sơ đánh giá nhà cung cấp. Đáng chú ý, yêu cầu này không chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp lớn mà đang lan rộng tới cả doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều đó đồng nghĩa với việc những doanh nghiệp chậm thích ứng sẽ đối mặt với nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu trong tương lai gần.

Trong bối cảnh các nền kinh tế lớn đồng loạt thúc đẩy mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, ESG không còn là một xu hướng mang tính khuyến nghị mà đang dần trở thành điều kiện bắt buộc để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Bà Lô Ly, Trưởng đại diện Comtest Group Việt Nam cho biết, trước đây doanh nghiệp chủ yếu cạnh tranh bằng giá thành, chất lượng sản phẩm và tiến độ giao hàng. Tuy nhiên, hiện nay các yếu tố liên quan đến môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp đã trở thành một phần không thể tách rời trong quá trình đánh giá đối tác.

231.jpg
Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đóng vai trò trụ cột khi chiếm tới 82,8% tổng vốn FDI. (Ảnh: HẢI NAM)

Xây dựng "hệ sinh thái FDI giá trị cao"

Theo các chuyên gia, mô hình tăng trưởng dựa vào lợi thế chi phí thấp đang bộc lộ nhiều giới hạn. Tiến sĩ Bùi Quý Thuấn, Trường Kinh tế, Đại học Phenikaa, Trưởng ban Nghiên cứu tổng hợp Hiệp hội Phát triển hàng tiêu dùng Việt Nam (VIPFA), cho rằng, Nghị quyết số 10 NQ/TW của Bộ Chính trị đã đánh dấu bước chuyển mang tính bước ngoặt trong tư duy phát triển. Nếu trước đây, Việt Nam chủ yếu thu hút FDI theo chiều rộng, coi FDI là nguồn lực bổ sung cho tăng trưởng, thì nay chuyển sang phát triển theo chiều sâu, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển xanh làm nền tảng.

Theo đó, FDI không còn được xem là một khu vực phát triển biệt lập mà trở thành một cấu phần của mô hình tăng trưởng mới, gắn với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, cụm ngành, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do và các chuỗi cung ứng hiện đại.

Đặc biệt, việc tích hợp sâu các tiêu chuẩn chuyển đổi xanh và phát triển bền vững vào chiến lược thu hút đầu tư cho thấy Việt Nam đang chủ động dịch chuyển từ vị thế một quốc gia "đi mời gọi đầu tư" sang một quốc gia "kiến tạo hệ sinh thái chất lượng cao" để các dòng vốn thế hệ mới tự tìm đến.

Chuỗi cung ứng xanh thành thước đo năng lực cạnh tranh

Nếu ESG là bộ tiêu chuẩn đánh giá doanh nghiệp thì chuỗi cung ứng xanh chính là một trong những mô hình quan trọng để hiện thực hóa cam kết về môi trường, Xã hội và Quản trị doanh nghiệp trong ESG.

Tiến sĩ Bùi Quý Thuấn cho rằng, một trong những định hướng quan trọng của Nghị quyết số 10 là dịch chuyển dòng vốn FDI lên các công đoạn thượng nguồn của chuỗi giá trị như nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế, đổi mới sáng tạo và quản trị chuỗi cung ứng. Song song với đó là yêu cầu nâng tỷ lệ nội địa hóa lên mức 45% đến 50% trong các ngành công nghiệp chủ lực trước năm 2030 và đưa khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của khu vực FDI.

t4.jpg
Hệ thống trang trại và nhà máy của Vinamilk đang triển khai kiểm kê khí nhà kính, giúp xác định điểm phát thải trọng yếu. (Ảnh: VN)

Điều này đặt ra yêu cầu rất lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam trong việc xây dựng năng lực quản trị hiện đại và hệ thống dữ liệu minh bạch.

Theo Thạc sĩ Cao Cẩm Linh, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Phát triển nhân lực Logistics Việt Nam (VALOMA), toàn bộ chuỗi logistics, từ kho bãi, vận tải cho tới các khâu trung gian, đều phát sinh phát thải carbon.

Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp logistics dù đã ứng dụng các phần mềm quản trị vẫn chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu phục vụ báo cáo phát thải. Khi cần lập báo cáo, dữ liệu thường phân tán ở nhiều bộ phận, chưa được chuẩn hóa và chủ yếu thực hiện thủ công. Đây là một bất lợi lớn, nhất là đối với nhóm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ vốn chiếm hơn 80% số lượng doanh nghiệp logistics trên thị trường.

Theo bà Linh, doanh nghiệp không chỉ phải truy xuất nguồn gốc sản phẩm mà còn phải truy xuất toàn bộ quá trình vận hành, từ nguyên liệu đầu vào, nhiên liệu sử dụng đến phương thức vận chuyển. "Việc thu thập dữ liệu sạch ngay từ đầu là yêu cầu quan trọng nhưng cũng là thách thức rất lớn đối với nhiều doanh nghiệp logistics", bà Linh chia sẻ.

Các chuyên gia đều có chung nhận định rằng không thể có chuyển đổi xanh nếu thiếu chuyển đổi số. Ông Phạm Đức Nghiệm, Phó Cục trưởng Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam. Đồng thời, các chính sách tăng trưởng xanh cũng đang mở ra nhiều cơ hội để doanh nghiệp đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm xanh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong khi đó, ông Bùi Lâm Anh, Giám đốc Phát triển sản phẩm Lead On GHG, cho rằng khó khăn lớn nhất hiện nay không phải là doanh nghiệp không muốn chuyển đổi xanh mà là thiếu công cụ phù hợp để triển khai. Hiện nay, dữ liệu phục vụ kiểm kê khí nhà kính thường nằm rải rác ở nhiều bộ phận như kế toán, sản xuất, vận hành và quản lý năng lượng. Các hoạt động kiểm kê theo phương thức truyền thống vừa tốn kém vừa mất nhiều thời gian. Do đó, việc ứng dụng các nền tảng số có thể giúp doanh nghiệp tự động hóa toàn bộ quá trình quản lý phát thải.

tr3-444-8198.jpg
ESG và chuỗi cung ứng xanh vì thế không còn là một lựa chọn mang tính thời thượng. Đó đang trở thành một tiêu chuẩn bắt buộc, một "tấm hộ chiếu" mới của nền kinh tế. (Nguồn: EVN)

Theo thống kê từ các doanh nghiệp đã triển khai, việc ứng dụng công nghệ giúp tiết kiệm tới 50% chi phí liên quan đến quản lý phát thải và giảm khoảng 90% thời gian dành cho công tác kiểm kê, tổng hợp dữ liệu và lập báo cáo. Quan trọng hơn, doanh nghiệp có thể theo dõi lượng phát thải theo thời gian thực để chủ động điều chỉnh chiến lược sản xuất, tiết kiệm năng lượng và nâng cao hiệu quả vận hành.

Trong bối cảnh các rào cản thương mại xanh ngày càng gia tăng, dữ liệu phát thải đang trở thành một loại tài sản chiến lược. Các chuyên gia cho rằng doanh nghiệp sở hữu dữ liệu minh bạch, có khả năng truy xuất nguồn gốc và chứng minh được hiệu quả giảm phát thải sẽ có lợi thế rất lớn trong việc tiếp cận khách hàng, nhà đầu tư và các nguồn vốn xanh quốc tế.

Quan trọng hơn, đây sẽ là chìa khóa để Việt Nam nâng cấp vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Theo Tiến sĩ Bùi Quý Thuấn, năng lực tự chủ chiến lược trong bối cảnh mới không có nghĩa là tách rời khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu mà là nâng cao khả năng làm chủ và gia tăng vị thế bên trong chuỗi cung ứng đó.

Để Việt Nam trở thành một mắt xích đủ quan trọng để các tập đoàn quốc tế phụ thuộc ngược trở lại. Điều này chỉ có thể đạt được khi quốc gia làm chủ được công nghệ, sở hữu đội ngũ nhân lực chất lượng cao và xây dựng được một hệ sinh thái công nghiệp xanh, thông minh, có khả năng chống chịu trước các cú sốc địa chính trị.

Trong cuộc cạnh tranh thu hút FDI thế hệ mới, ESG và chuỗi cung ứng xanh vì thế không còn là một lựa chọn tạm thời. Điều đó đang trở thành một tiêu chuẩn bắt buộc, một "tấm hộ chiếu" mới của nền kinh tế. Quốc gia nào xây dựng được hệ sinh thái xanh, minh bạch và có năng lực lan tỏa công nghệ sẽ trở thành điểm đến của dòng vốn chất lượng cao. Với Việt Nam, đây không chỉ là cơ hội để thu hút thêm FDI mà còn là thời điểm quan trọng để chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cấp năng lực cạnh tranh và từng bước khẳng định vị thế mới trong nền kinh tế toàn cầu.

Có thể bạn quan tâm

Hiện tỉnh Sơn La có 58 hợp tác xã nông nghiệp có mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu.

Chuyển đổi xanh mở lối cho nông nghiệp Sơn La phát triển bền vững

Tỉnh Sơn La đang khẳng định vị thế là địa phương đi đầu trong phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn và chuyển đổi số. Những mô hình hợp tác xã, doanh nghiệp tiên phong chế biến nông sản, tư duy sản xuất theo hướng bền vững đã góp phần nâng cao giá trị nông sản, bảo vệ môi trường, tăng thu nhập cho người dân.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao

Trên hành trình hướng tới phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, xây dựng được xem là lĩnh vực then chốt cần chuyển đổi mạnh mẽ. Không chỉ quy mô tiêu thụ tài nguyên khổng lồ, mà còn bởi lượng phát thải chiếm tỷ trọng lớn. Những nghiên cứu về vật liệu xây dựng xanh không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu.

Việt Nam cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. (Ảnh: Netzero.vn)

Net Zero và cơ hội tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam

Cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 thường được nhìn nhận như một mục tiêu khí hậu hay nghĩa vụ quốc tế. Nhưng ở góc độ phát triển, Net Zero còn là cơ hội để Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và kiến tạo những động lực phát triển mới cho nền kinh tế.

Sản phẩm vật liệu xanh được Công ty Xi-măng Sông Thao phân phối ra thị trường.

Khơi thông tiềm năng vật liệu xanh, bền vững

Xanh hóa vật liệu cho ngành xây dựng mang lại lợi ích kinh tế, đồng thời là giải pháp hữu hiệu nhằm giảm phát thải, hướng tới nền kinh tế xanh, bền vững. Thời gian qua, các công trình nghiên cứu, thử nghiệm về loại vật liệu này đã cho thấy tính khả thi cao và có nhiều tiềm năng ứng dụng trong thi công.

Dự án góp phần hỗ trợ và khuyến khích phụ nữ trong chuyển đổi xanh. (Ảnh: CTV)

Hỗ trợ tối đa 1,8 tỷ đồng cho các sáng kiến về chuyển đổi xanh do phụ nữ dẫn dắt

Từ nay đến hết ngày 12/6/2026, mỗi sáng kiến góp phần cải thiện sinh kế, tạo việc làm tử tế và nâng cao vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững và kinh tế tuần hoàn, phù hợp với điều kiện địa phương và thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ được nhận hồ sơ xét tài trợ đợt hai.

Đồng hành xanh hóa nông nghiệp: Từ giấc mơ đến hiện thực

Đồng hành xanh hóa nông nghiệp: Từ giấc mơ đến hiện thực

Từ những vùng đất từng bị xem là chai cứng, khó canh tác, các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học đang từng bước tạo nên sự thay đổi rõ rệt. Không chỉ giúp giảm chi phí, tăng năng suất và nâng cao giá trị nông sản, những vườn chanh leo, dâu tây, cà chua… còn mở ra hướng đi mới cho nông nghiệp xanh, bền vững.

Tọa đàm “Tài nguyên thiên nhiên và chuyển đổi xanh ở Việt Nam”. (Ảnh: TL)

Thúc đẩy chuyển đổi xanh, hướng tới phát triển bền vững

Trong bối cảnh hiện nay, thúc đẩy năng lượng tái tạo, nông nghiệp tuần hoàn, bảo vệ rừng, quản lý bền vững tài nguyên nước và khai thác khoáng sản gắn với công nghệ sạch không chỉ là xu thế tất yếu, mà còn là giải pháp then chốt để hài hòa giữa khai thác và bảo tồn, hướng tới phát triển nhanh và bền vững.