Từ EUDR đến cơ hội nâng giá trị cà-phê Việt

Thông qua chương trình NESCAFÉ Plan, Nestlé góp phần hỗ trợ ngành cà-phê Việt Nam thích ứng với EUDR, đồng thời nâng cao thu nhập cho nông dân.

Tại hội thảo “Nâng cao giá trị, bảo đảm tuân thủ và thúc đẩy tăng trưởng xanh trong ngành cà-phê và ca-cao” do Tổ chức quốc tế 4C phối hợp Hiệp hội Cà-phê - Ca-cao Việt Nam (VICOFA) tổ chức ngày 17/9 tại Thành phố Hồ Chí Minh, các chuyên gia, hiệp hội và doanh nghiệp cho rằng, việc đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường quốc tế không chỉ là yêu cầu về thương mại mà còn tác động trực tiếp đến phương thức tổ chức sản xuất của ngành cà-phê.

EUDR thúc đẩy minh bạch chuỗi cung ứng

Theo ông Cyril Loisel, Bí thư Thứ nhất, Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam, EUDR hướng tới giảm nguy cơ các sản phẩm liên quan đến phá rừng và suy thoái rừng được đưa vào thị trường EU, đồng thời thúc đẩy việc đưa vào thị trường những sản phẩm có nguồn gốc hợp pháp và không gây mất rừng.

Theo quy định, doanh nghiệp phải chứng minh sản phẩm đáp ứng các yêu cầu về nguồn gốc, tính hợp pháp và không liên quan đến phá rừng. EUDR dự kiến áp dụng từ ngày 30/12/2026 đối với doanh nghiệp quy mô lớn và vừa, từ ngày 30/6/2027 đối với doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ.

anh-1-1.jpg
Ông Phạm Phú Ngọc chia sẻ về hành trình của chương trình NESCAFÉ Plan trong hỗ trợ nông dân chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp tái sinh. (Ảnh: Đỗ Bảo - Khánh Sơn)

Đối với Việt Nam, yêu cầu này đặt ra bài toán không chỉ ở khâu xuất khẩu mà từ chính vùng nguyên liệu. Doanh nghiệp cần có khả năng xác định nguồn gốc sản phẩm, trong khi người sản xuất phải từng bước đáp ứng các yêu cầu về canh tác, sử dụng đất và hồ sơ sản xuất. Ông Bạch Thanh Tuấn, Phó Chủ tịch VICOFA cho biết, kim ngạch xuất khẩu cà-phê Việt Nam đạt khoảng 9 tỷ USD trong năm 2025. Khi quy mô thị trường ngày càng lớn, việc đáp ứng các tiêu chuẩn mới cũng trở thành một yếu tố quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của ngành.

Theo bà Nguyễn Việt Hà, Quản lý cấp cao về bền vững, Tổ chức quốc tế 4C, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và sản xuất bền vững đang tạo động lực để doanh nghiệp và nông dân chuẩn hóa chuỗi cung ứng, từ vùng trồng đến các khâu thu mua, chế biến và xuất khẩu.

Như vậy, EUDR không chỉ đặt ra thêm một yêu cầu đối với doanh nghiệp xuất khẩu mà còn thúc đẩy ngành cà-phê chuyển từ phương thức quản lý theo từng khâu sang quản trị toàn bộ chuỗi giá trị. Đây cũng là điều kiện để nâng cao chất lượng nguyên liệu, giảm rủi ro trong xuất khẩu và từng bước nâng giá trị sản phẩm.

Chuẩn bị từ vùng nguyên liệu

Để đáp ứng các yêu cầu mới, việc chuẩn bị tại vùng trồng có ý nghĩa quyết định. Những doanh nghiệp đầu tư sớm vào vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn sản xuất bền vững có điều kiện thuận lợi hơn trong quá trình thích ứng. Một trong những mô hình được triển khai tại Việt Nam là chương trình NESCAFÉ Plan, được Nestlé thực hiện từ năm 2011 nhằm hỗ trợ phát triển ngành cà-phê theo hướng bền vững.

Ông Phạm Phú Ngọc, Giám đốc Nông nghiệp Nestlé Việt Nam, Trưởng đại diện Nestlé tại Tây Nguyên, phụ trách chương trình NESCAFÉ Plan cho biết, chương trình đã kết nối với hơn 23.000 hộ nông dân tại các vùng trồng trọng điểm. Các hoạt động tập trung vào đào tạo kỹ thuật canh tác, tái canh những diện tích cà-phê già cỗi và sử dụng hiệu quả tài nguyên trong sản xuất.

Cùng với nâng cao năng suất, chất lượng nguyên liệu, chương trình thúc đẩy các thực hành nông nghiệp tái sinh và canh tác bền vững. Trong đó, nông dân được hướng dẫn sử dụng nước, phân bón phù hợp nhu cầu của cây trồng, hạn chế thuốc bảo vệ thực vật và tăng cường các biện pháp sinh học.

anh-2-1.jpg
Cán bộ kỹ thuật NESCAFÉ Plan hướng dẫn nông dân thực hành cải tạo đất tại vườn cà-phê. (Ảnh: Đỗ Bảo - Khánh Sơn)

Mô hình xen canh cà-phê với một số cây trồng như hồ tiêu, mắc-ca cũng được áp dụng tại một số vùng, qua đó đa dạng hóa sản xuất và tạo thêm nguồn thu cho người trồng cà-phê. Theo ông Phạm Phú Ngọc, nông nghiệp tái sinh đang trở thành một hướng quan trọng trong chương trình, tập trung vào sức khỏe đất, bảo vệ nguồn nước và đa dạng sinh học.

Cùng với thay đổi phương thức canh tác, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc cũng được triển khai từ vùng trồng. Theo đó, doanh nghiệp và các đối tác hỗ trợ một số chi phí phục vụ quá trình chuyển đổi như đo vẽ tọa độ, phát triển phần mềm, đánh giá và cấp chứng nhận.

Đây là những khâu có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng đáp ứng các yêu cầu của thị trường. Khi dữ liệu được hình thành ngay từ vùng nguyên liệu, doanh nghiệp có thể kiểm soát tốt hơn hành trình của sản phẩm qua các khâu nông dân, đại lý, nhà thu gom, nhà buôn và nhà máy.

Nâng giá trị từ chế biến sâu

Bên cạnh câu chuyện tuân thủ tiêu chuẩn, bài toán lớn hơn đối với ngành cà-phê Việt Nam là làm thế nào chuyển lợi thế về sản lượng thành giá trị gia tăng cao hơn. Việt Nam hiện là một trong những nước sản xuất và xuất khẩu cà-phê lớn trên thế giới, song việc gia tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu vẫn là hướng được đặt ra nhằm nâng giá trị của hạt cà-phê.

Trong hơn 30 năm đầu tư tại Việt Nam, Nestlé cho biết, đơn vị đã xây dựng chuỗi hoạt động từ vùng nguyên liệu, hỗ trợ canh tác đến chế biến và xuất khẩu. Doanh nghiệp này đã đầu tư gần 580 triệu USD vào các nhà máy chế biến cà-phê chất lượng cao, với sản phẩm được xuất khẩu tới gần 40 thị trường. Tháng 8 vừa qua, một dây chuyền đóng gói cà-phê hòa tan trong hũ thủy tinh, công suất 350.000 hũ/ngày, được đưa vào vận hành. Sản phẩm từ dây chuyền này được xuất khẩu tới 11 quốc gia.

Việc mở rộng chế biến cũng đồng nghĩa với yêu cầu cao hơn về chất lượng nguyên liệu, khả năng kiểm soát sản xuất và đáp ứng những quy cách khác nhau của từng thị trường. Từ yêu cầu của EUDR có thể thấy, nâng giá trị cà-phê không chỉ nằm ở khâu cuối cùng của chuỗi sản xuất. Giá trị ấy được hình thành từ vùng nguyên liệu, phương thức canh tác, khả năng truy xuất, chất lượng hạt cà-phê đến công nghệ chế biến.

Trong bối cảnh thị trường quốc tế ngày càng coi trọng các tiêu chuẩn môi trường và tính minh bạch, việc đáp ứng EUDR vì thế có thể trở thành động lực để ngành cà-phê Việt Nam tổ chức lại chuỗi cung ứng, nâng chất lượng sản phẩm và tiến sâu hơn vào các phân khúc có giá trị gia tăng cao.

Có thể bạn quan tâm

Đại diện JICA, VNUA và Toyo ký kết bàn giao hệ thống thiết bị máy móc. (Ảnh: ANH THƯ)

Thúc đẩy sản xuất điện và phân bón hữu cơ từ các loại rác thải rắn

Ngày 16/9, tại Hà Nội, JICA Việt Nam và Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA) tổ chức hội nghị chia sẻ kết quả và sản phẩm của dự án “Khảo sát tiềm năng phát triển kinh doanh bền vững đối với doanh nghiệp tư nhân trong sản xuất điện và phân bón hữu cơ bằng công nghệ lên men tạo khí mê-tan từ các loại rác thải rắn ở Việt Nam”.

Hiện tỉnh Sơn La có 58 hợp tác xã nông nghiệp có mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu.

Chuyển đổi xanh mở lối cho nông nghiệp Sơn La phát triển bền vững

Tỉnh Sơn La đang khẳng định vị thế là địa phương đi đầu trong phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn và chuyển đổi số. Những mô hình hợp tác xã, doanh nghiệp tiên phong chế biến nông sản, tư duy sản xuất theo hướng bền vững đã góp phần nâng cao giá trị nông sản, bảo vệ môi trường, tăng thu nhập cho người dân.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao

Trên hành trình hướng tới phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, xây dựng được xem là lĩnh vực then chốt cần chuyển đổi mạnh mẽ. Không chỉ quy mô tiêu thụ tài nguyên khổng lồ, mà còn bởi lượng phát thải chiếm tỷ trọng lớn. Những nghiên cứu về vật liệu xây dựng xanh không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu.

Phát triển bền vững đang trở thành điều kiện để doanh nghiệp tồn tại và cạnh tranh. (Ảnh: HNV)

Lãnh đạo doanh nghiệp chú trọng định hướng xanh – “chìa khóa vàng” đột phá hiệu suất xanh

Trong bối cảnh hiện nay, áp lực chuyển đổi xanh cùng với chuyển đổi số ngày càng đè nặng lên vai các doanh nghiệp Việt Nam. Theo đó, một nghiên cứu từ Đại học Kinh tế Quốc dân mới đây đã chỉ ra rằng: Phong cách lãnh đạo phụng sự định hướng môi trường chính là động lực chính giúp doanh nghiệp bứt phá về hiệu suất xanh.

Các tình nguyện viên hào hứng tham gia trồng rừng ngập mặn. (Ảnh: BTC)

Khởi động sáng kiến trồng 1ha rừng ngập mặn tại Vĩnh Long

Không chỉ dừng lại ở hoạt động trồng cây trong một ngày, chương trình còn hướng tới cam kết chăm sóc, theo dõi và duy trì diện tích rừng trong 4 năm, nhằm góp phần bảo đảm tỷ lệ sống của cây và tạo tác động dài hạn cho hệ sinh thái địa phương.

Mô hình trồng thử nghiệm linh chi dưới tán rừng tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc.

Lâm nghiệp Việt Nam từ khát vọng đến hành động thực thi cam kết Net Zero 2050

Trong bối cảnh thực thi cam kết đạt phát thải ròng bằng "0" (Net Zero) vào năm 2050, ngành lâm nghiệp Việt Nam đang đứng trước sứ mệnh lịch sử kép: Phải bứt tốc trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có sức cạnh tranh toàn cầu; vừa khẳng định vai trò là "bể hấp thụ carbon" cốt lõi, bảo vệ vững chắc an ninh sinh thái quốc gia.

Các diễn giả trong một sự kiện tổng kết ba năm triển khai dự án (2023-2026) tại Cần Thơ vừa qua. (Ảnh: Hội đồng Anh tại Việt Nam)

“Kỹ năng về khí hậu – Hạt giống cho chuyển đổi xanh”

Dự án “Kỹ năng về khí hậu - Hạt giống cho chuyển đổi xanh (Climate Skills - Seeds for Transition) là một chương trình toàn cầu của Hội đồng Anh phối hợp Ngân hàng HSBC  nhằm trang bị cho những người trẻ kỹ năng và kiến thức cần thiết, góp phần thúc đẩy chuyển đổi từ nền kinh tế carbon cao sang nền kinh tế carbon thấp.

Mô hình nhà máy xanh.

Hiệu quả từ mô hình sử dụng tài nguyên hướng đến phát triển xanh bền vững

Mô hình sản xuất không chất thải của Gốm Đất Việt là minh chứng tiêu biểu cho hướng đi công nghiệp xanh, bền vững tại Việt Nam. Đơn vị đã tận dụng triệt để nguồn tài nguyên đất sét từ mỏ riêng, áp dụng công nghệ hiện đại để tái sử dụng toàn bộ chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất, không phát sinh rác thải ra môi trường.

Sản phẩm viên nén sinh khối của Nhà máy nhiên liệu sinh khối Erex Sakura Tuyên Quang được thị trường Nhật Bản đón nhận.

Đánh thức tiềm năng năng lượng sinh khối: Hướng đi chiến lược cho mục tiêu Net Zero của Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu đẩy mạnh chuyển dịch năng lượng nhằm hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng 0 tại COP26, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để khai thác hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, trong đó năng lượng sinh khối được xem là một trụ cột giàu tiềm năng nhưng chưa được phát huy tương xứng.