Câu cá ngừ đại dương

1/Miền nhỏm dậy trên tấm chiếu bèo nhèo trong khoang tàu. Biên vẫn ngủ ngon như con chó nhỏ. Tàu vẫn xình xịch đều đều chạy ra hướng đông, ánh bình minh đang ló rạng. Vậy là con tàu đã băng trên biển một đêm rồi!
Minh họa: NGUYỄN MINH
Minh họa: NGUYỄN MINH

Chiều qua khi Miền đến chắp tay chào chú Bảy xin ra nhập tàu. Chú chỉ cười:

- Tao có nghe thằng Biên nói rồi. Mày muốn trải nghiệm? Cũng ghê đấy! Nhưng đi với bọn tao thì mất cả gần một tuần.

Rồi chú Bảy cười nhạt quay nhìn ra mũi tàu nơi có một anh đang thu leo để chuẩn bị khởi hành. Chú Bảy nói to:

- Khởi neo được chớ?

Chẳng có tiếng gì. Chỉ có tiếng máy tàu rồ lên dữ dội chẳng khác gì một con cá Ông thức giấc hắt hơi phun hết nước trong mũi để bơi. Tàu rùng mình lên đường. Tiếng nước sông hơi nặng rạt rào bên mạn nhưng chỉ một chút ra biển, tàu lướt nhẹ nhàng như con cá ngừ dưa.

Miền bước ra mũi ở nơi xếp rất nhiều những giỏ cần xé, nhìn vào toàn những dây cước to trông như tô miến khổng lồ. Đó chính là dây câu cá ngừ đại dương. Ngồi chán thì chú Bảy ngó vào nói:

- Hai đứa chui vào ngủ đi để tối mai lấy sức nghe!

2/Con tàu vẫn chạy ra hướng mặt trời mọc. Ngồi trước bánh lái là người khác không phải anh Ba Đồng tối qua. Ngó lại thấy anh cũng nằm ở góc với mấy người. Trên boong chú Bảy ngồi hút thuốc khan. Mùi thuốc tạt vào khét lẹt, chứng tỏ thuốc rất nặng. Ở góc bếp, nồi cơm điện đã cắm lập lòe. Có mấy món ăn cũng bốc mùi thơm, chứng tỏ đầu bếp đã chuẩn bị bữa sáng rất sớm. Bình minh càng rạng rỡ soi hồng rực con tàu.

- Dậy rồi nhỏ! Ra vòi nước rửa mặt đánh răng tí ăn sáng!

Tiếng chú Bảy khàn khàn thân ái làm cho Miền an tâm bớt cảm giác xa lạ. Người đi biển hay làng biển thân tình như vậy. Không khách sáo nhưng cũng không kênh kiệu. Giờ lên tàu là gia đình sống chết có nhau.

- Mày lặn được bao nhiêu sải vậy con?

Tự nhiên chú Bảy hỏi làm thằng Miền bối rối:

- Dạ con lặn theo anh Ri được năm xải!

- Khá đấy! Tau biết thằng Ri nó lặn gần 20 xải!

- Dạ anh ấy quá đẳng cấp rồi chú Bảy!

- Nói vui vậy để nếu có dịp ghé rạn Đá Bạc. Tao cho dừng tàu đi lặn cho vui. Giờ phải đi thẳng ra bãi Tiên Nữ cho kịp đón đàn cá ngừ vây vàng đang tới! Nghe nói có cả bầy vây xanh nữa!

Nghe chú Bảy nói, Miền kinh ngạc không sao hiểu nổi vì sao người đàn ông ngăm đậm chất nông dân đang ngồi hút thuốc khan trên con tàu gỗ này mà nói tận đáy biển xa vời nào như nói về ao nước vậy. Nửa tin, nửa ngờ. Như nhóm của anh Ri đi săn cá khủng cũng xem tuần trăng con nước có tính hú họa chứ đâu ai nói như thánh giống chú Bảy này. Chắc chú ấy biết thì sẽ có bao người sẽ biết chứ nhỉ? Mặt biển mênh mông phập phồng giờ chỉ có mỗi con tàu này hướng về mặt trời. Tưởng vậy nhưng khi anh tài công mở máy thông tin thấy tiếng người gọi nhau nheo nhéo đủ tiếng xứ Quảng, xứ nẫu Bình Định, tiếng Khánh Hòa ầm ĩ. Thì ra hiện trên biển có hàng trăm con tàu lấp ló chân sóng đi săn cá. Họ né nhau trên biển để tìm cá theo ý mình.

3/Trời hửng sáng tới chói chang. Mọi người vẫn không dậy hết. Biên đã chui ra rửa mặt gọn trơn, rồi ngồi trước boong cùng Miền. Chú Bảy ra đuôi tàu rồi chui xuống hầm tàu như rà soát cái gì đó. Anh Ba Đồng trở lại cầm lái. Con tàu lao nhanh hơn lúc trước.

- Mình đi bao xa rồi anh Ba?

Biên hỏi đầy tự nhiên. Anh Ba nhìn vào màn hình rồi nhìn quanh một vòng thản nhiên:

- 150 lý rồi nhóc!

Miền lẩm nhẩm… Tàu đã đi hơn 200 km rồi! Vậy mà vẫn chạy, chứng tỏ biển mênh mông tới vô tận. Thế mới gọi là đại dương chứ!

Tưởng lên tàu sẽ làm tíu tít việc như câu, thả lưới hay ngụp lặn nhưng ngồi hoài như hành khách bất đắc dĩ thấy ngán ngẩm thật. Biển nhạt dần xanh liễng nhưng lớp sóng như lớp thạch, chứng tỏ nước rất sâu. Lúc này ở hai bên mạn có mấy con tàu đồng hương mầu xanh cũng chạy song song. Thì ra họ đi theo con đường trên biển ra tới “bãi” mới gặp nhau. Nhìn biết ngay họ cười vang cùng tiếng gió, tiếng máy, tiếng sóng chao.

Chú Bảy ra hiệu cho anh Ba, con tàu gầm lên rồi quay mũi lên phía bắc. Miền hiểu tàu đang hướng về hải đảo Hoàng Sa của ta. Thật đúng câu “trời của ta biển của ta”… Miền cười thầm thêm câu: “…và cá của ta!”.

4/Đến nửa chiều thì trên tàu bắt đầu rộn. Biển không nắng gắt có phần âm u báo hiệu có thể có mưa nên thẫm lại. Chú Bảy cùng mấy người ngồi nhìn vào màn hình do một anh tên Lâm điều khiển. Trên màn hình có những biểu đồ với những con số chi chít. Biên thì thào: “Máy dò cá đó!”. Miền ngạc nhiên: “Đã đến rồi à?”. Biên gật đầu. Tiếng chú Bảy hơi vui: “Thấy những bạn quý rồi hỉ, chỉ điều hơi sâu!”. Tiếng một người khác nói: “Chừng 30 sải, anh Bảy!”… Thì ra họ bàn bạc dò đàn cá ngừ đại dương đang bơi lội dưới đáy biển thẳm sâu kia. Thật quá tài. Miền nhỏm ra nhìn xuống mặt biển chỉ thấy sóng chao đập nước vào hai mạn ọp ọp. Tàu vẫn chạy nhẹ để giữ thăng bằng.

Trên boong, mấy anh chui xuống hầm tàu lục lọi đồ nghề. Đó là những cái sọt đựng đầy dây câu. Hóa ra mấy giỏ cần xé để mũi tàu kia cũng chưa đủ. Dưới hầm tàu tiếng lục cục rồi những cánh tay đưa lên đủ: lưới, phao, thùng.

Ở góc tàu, một anh lôi mấy cây gỗ to bằng cổ tay dài như cây sào ra… Thì ra họ đang sửa lại cái “khấu”, tức cái móc với mũi to nhọn như ngón tay. Miền giật mình khi thấy anh này một tay bị cụt vậy mà anh vẫn đi làm thợ. Nghe nói một lần đi ghe, anh bị máy xay đá nghiến nát bàn tay. Tưởng anh bỏ nghề nhưng không, anh vẫn xin đi làm vì với anh thiếu một bàn tay cũng chưa là gì cả. Với nghề biển này, rất cần người có sức khỏe nhưng chẳng ai biết được. Có những chuyến đi cả đoàn tàu thả cờ rủ kéo nhau đưa bạn nghề về đất mẹ khi bị tai biến mất giữa biển. Còn tai nạn lặt vặt là thường. Sợ nhất, đau đớn nhất là bị rớt xuống biển sâu mất hút. Khi đó cả làng tàu biển ngẩn ngơ bơ vơ mãi mới quay về đất liền… Thuyền trưởng đau đớn và sợ nhất cảnh về bến quen không biết trả lời sao với người thân của người xấu số. Tình thế đó, lắm khi phải nhắn qua ghe bạn rồi về bến khác để tránh… Đấy là chuyện Miền nghe dân biển kể với nhau, nhưng giờ trên tàu thì không ai dám nói chuyện xui xẻo đó, kể cả nhìn thấy cánh tay cụt ngủn của anh thợ đang cầm cái khấu kia.

/Có tiếng ở mũi tàu trong màn đêm như mực.

- Cắn rồi anh Bảy!

Tưởng mọi người sẽ xúm lại cần hỗ trợ nhưng không chỉ có ba người tới. Cước móc vào câu máy để nó kéo dần. Đầu kia anh Mỹ bám tay để biết nhịp con cá đến mức nào. Vì nó đang ở dưới đáy nước sâu mấy chục mét và xa cũng như vậy nên việc kéo cước vẫn từ từ. Lúc này con cá bắt đầu khó chịu khi bị rong dần để nổi lên. Sau này Miền mới biết, do ở độ sâu với áp suất lớn nên chính là lúc lên dần, nó sẽ mệt dần, nếu lên nhanh hầu như vỡ bong bóng chết ngay thì không thể kéo lên được. Đây là kiểu “kéo trâu điên qua đầm lầy” phải dùng chính sức của cá để lên mặt nước.

Máy kéo cước được mắc vào để tăng tốc vì con cá có biểu hiện chống cự dữ dội. Qua sợi cước rung với biên độ như điện, người thợ câu hiểu vấn đề cần làm gì. Bởi với con cá nặng hơn nửa tạ, có sức mạnh của một con báo trên đồng cỏ. Dưới đáy biển, nó hầu như không có kẻ thù nào, kể cả cá mập, cá nhà táng vì mức nước quá sâu, áp suất lớn nên hình dáng nó như một quả ngư lôi.

Máy kéo mấy chục phút nhưng những cánh tay vẫn miệt mài thu cước.

- Ê thả xung điện xuống đi!

Một anh thả sợi cáp điện xuống theo cước. Thì ra đây gặp con cá ngừ to khỏe nó đang chống trả rất quyết liệt. Để lâu sẽ bứt mất. Phải thả điện cực xuống chích cho nó tê dại. Đây là phương pháp của người Nhật để bảo tồn chất lượng thịt cá cho ngon. Họ quan niệm con vật cần cái chết nhẹ nhàng, nếu đau đớn thì miếng thịt sẽ biến chất.

Dù thả điện mà gần lên mặt nước con ngừ vẫn chao đảo như mũi tên trong làn nước. Trên be tàu, ba thủy thủ sẵn sàng khấu để móc kéo…

Chợt, con ngừ lao vụt khỏi mặt nước rồi đổ ầm xuống, nước bắn tung tóe dữ dội.

- Thôi chết rồi!

Tiếng chú Bảy than trời đau đớn vì nghĩ nó đã đứt cước hay tuột lưỡi chìm về biển.

- Còn, anh Bảy! Còn, anh Bảy!

Tiếng anh thợ tay cụt kêu to. Anh vòng sợi cước vào phần tay còn lại giữ chặt. Sợi cước xiết chặt cẳng tay anh rướm máu nhưng anh vẫn giữ.

Anh Long cùng mấy người bạn đưa móc xuống lùa cá nhưng đều trật. Cuối cùng có tiếng ầm dữ dội. Một người cầm xỉa lao xuống nước đâm thẳng vào đầu con cá, anh văng ra mất hút vào làn nước đầy máu. Tiếng hét:

- Nam, mày có sao không?

Mọi người buông cá ném phao xuống biển ầm ầm…

Đúng như phán đoán, con cá ngừ to đen, vây xanh biếc to như con lợn tạ được ba móc mới kéo lên boong giãy dụa, mắt nó đầy phẫn uất không hiểu vì sao sống tận đáy biển sâu mà bị lôi lên đây. Anh Long cùng mấy người cầm con dao nhọn đâm vào cổ họng lôi mang ruột ra. Cả khoang tàu loang máu.

Chú Bảy chửi ầm khi anh Nam đang bám vào mạn tàu leo lên:

- Đồ ngu, sao làm thế?

- Em tiếc quá anh Bảy!

Anh Nam gương mặt đầy máu cá. Biển phập phồng chao lượn như chiếc khăn.

Có thể bạn quan tâm

Chung tay làm bánh của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: BẮC SƠN

“Nón lắp bo mi xẩu quyệt”

Trong tiếng Thái vùng núi Thanh Hóa, có một câu nói ví von đầy ý nhị nhưng cũng thật trần trụi về nhu cầu cơ bản của con người: "Kin khẩu bo mi kẻng cắp/Nón lắp bo mi xẩu quyệt". Dịch ra tiếng Kinh, nghĩa là: “Ăn cơm không có canh khác gì đi ngủ không có người ôm”.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Tin vào cánh đào xuân

Đầu giờ chiều, trên bãi đất trống ở trụ sở xã Yên Sơn đã đầy xe máy, xe đạp. Bụi đất đỏ vồng lên thành luồng theo một chiếc xe máy đi từ đường lớn vào sân.

Hát ru. Ảnh: NAM NGUYỄN

Mùa ca dao đã mất

“À ơi... Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay...”, phải chăng ký ức của mỗi người vẫn đang cất giữ những lời ru ầu ơ, vẫn như đang nghe thấy tiếng võng đưa kẽo kẹt…

Ảnh: HẢI ANH

Chợ gốc đa, những sớm mai ở lại

Sáng nào thức dậy sớm, tôi cũng đi bộ về phía gốc đa già nằm giữa đình Quán La và chùa Khai Nguyên (nay thuộc phường Xuân Đỉnh, Hà Nội). Cái chợ nhỏ ấy, họp chẳng cần biển hiệu, cũng không cần mái che, người dân quen gọi là chợ gốc đa.

Ảnh: NGUYỄN NAM

Hết Tết, lại nhớ khói chiều cuối năm

Những chiều cuối năm ấy luôn đến chầm chậm, không báo trước, chỉ bằng lớp nắng mỏng tang trên mái ngói và tiếng chổi quét sân nghe rõ từng nhịp. Chạm đến chiều ba mươi, trong tôi lại dâng lên một cảm giác vừa hồi hộp, vừa bình yên như làn khói mỏng bay từ gian bếp.

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày bé, có lần tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, vườn nhà mình rộng thế, sao mẹ không trồng lấy một khóm hoa”. Mẹ tôi ngần ngừ rồi bảo: “Mẹ không biết nữa, mẹ chỉ muốn trồng gì đó để cả nhà được ăn no”.

Tát ao ăn Tết

Tát ao ăn Tết

Cứ đến khoảng 20 tháng Chạp, các xóm trong làng bắt đầu rủ nhau tát ao lấy cá ăn Tết.

Bên dòng Oka của Yesenin

Bên dòng Oka của Yesenin

Trong hình dung của tôi, không thể ở tận thế kỷ 21 mà trên đời vẫn còn tồn tại một ngôi làng cũ xưa như Konstantinovo. Thế mà có thật. Nó xưa cũ thật sự và vì xưa cũ, cảm giác như trong những cơn gió lạnh vẫn thấy bóng Sergey Yesenin chạy trên những lối mòn.

Minh họa: KIM DUẨN

Màu của Tết

Mùi của Tết thường đến khi gian bếp thơm mùi bánh chưng sôi ùng ục, khi những chiếc áo cũ mẹ mang ra phơi vẫn vương mùi băng phiến, khi mùi trầm ngan ngát theo gió thổi qua mỗi gian nhà. Khi ấy, Tết đã cận kề. Nhưng màu của Tết thì đến sớm hơn nhiều…

Anh Hiển (hàng dưới) chụp hình lưu niệm cùng du khách tại homestay của mình.

Chuyện của Hiển

Ngồi ngẫm lại chuyện gần 10 năm trước, Dương Vĩnh Hiển, chủ homestay HT Ánh Trung tại Làng Văn hóa Du lịch Cộng đồng Dân tộc H'Mông (xã Mèo Vạc, tỉnh Tuyên Quang) vẫn thấy mình “Sao liều thế!”.

Chợ Tết. Ảnh: NGUYỆT ANH

Chợ tháng Chạp

Chợ tháng Chạp không giống bất kỳ phiên chợ nào trong năm. Ngay từ tinh mơ, khi sương còn lẫn vào mùi rơm ẩm và khói bếp, những con đường dẫn về chợ đã lấp ló bóng người.

Hoài niệm. Ảnh: HẢI ANH

Những món đồ ở lại cùng ký ức

Tết lại sắp về. Cái rét cuối năm chưa kịp chạm ngõ đã thấy trong nhà xôn xao chuyện dọn dẹp. Con cháu bảo nhau lau bàn thờ, sắp lại tủ, phân loại đồ đạc: Cái nào dùng, cái nào bỏ, cái nào “cho đi”. Trong danh sách ấy, có rất nhiều thứ mà người trẻ gọi là “đồ cũ”, còn người già thì gọi bằng một cái tên khác: Kỷ niệm.

Phố đông. Ảnh: NAM NGUYỄN

Bao dung phố mùa đông

Những cơn mưa dầm xuất hiện. Từng cơn gió lạnh ùa khắp các con đường. Mỗi chiều về ngang phố, thoảng nghe tiếng thì thầm của lá, tiếng chim kêu run rẩy. Ở phố, sự có mặt của mùa đông dường như ít nhận ra từ đặc trưng của thiên nhiên mà thường tạo nên bởi rung động, xôn xao của cảm xúc con người.

Minh họa: ĐOÀN ĐỨC HÙNG

Phúc nhà

Mẹ bàn với tôi Tết này xin phép nhà nội, bọn trẻ rồi vợ chồng con cái ở lại ăn Tết với mẹ, có gì để mẹ nói đỡ với ông bà bên ấy một tiếng. Sau bao nhiêu sóng gió vừa xô đến với gia đình tôi, tóc mẹ trắng như cước và lưng mẹ như oằn hẳn xuống.

Kẻ cắp ở cuối làng

Ở quê tôi ngày ấy, cái nghèo không chỉ là sự thiếu thốn vật chất, mà nó còn tồn tại một thứ định kiến vô hình, tàn nhẫn. Những gia đình sống ở cuối làng, nơi con đường đất cụt ngủn và cỏ dại mọc lút đầu gối, thường mặc nhiên bị coi là "vùng tối" của cả cộng đồng.

Các món chè. Ảnh: NAM NGUYỄN

Nhớ sao vị ngọt ngào thơ ấu

Một sáng cuối tuần, tôi ghé khu chợ nhỏ quen thuộc gần nhà. Đang mải miết suy nghĩ mua nguyên vật liệu gì thì tiếng rao lảnh lót “Ai chè đậu đỏ, đậu đen, đậu xanh, thập cẩm không?” của một người phụ nữ quẩy quang gánh trên vai đã làm tôi khựng lại.

Minh họa: ĐẶNG TIẾN

Người khách đến nhà

Nắng tháng 5 dát vàng mái phố. Ngôi biệt thự số 7 Rue Jean Soler nằm ngay góc giao với Rue Jauréguiberry dường như nổi bật thêm lên bởi mầu sơn vàng. Ông Duot Bertheur (Đuy ô), người chủ của ngôi biệt thự, dậy sớm, đứng trên ban-công tầng 2, để ngắm nắng sớm mai.

Nhà khoa học chân chính

Đó là biệt danh lũ chúng tôi đặt cho anh khi mon men lên Thư viện Quốc gia mượn sách. Giữa môi trường tri thức trăm phần trăm, giáo sư, tiến sĩ "đông như quân Nguyên", anh vẫn nổi bật bởi vẻ đắm đuối suy tư những điều cao siêu đến thoát tục.

Ảnh: SONG ANH

Mảnh vườn xưa

Tôi có thói quen khắc số năm sau ngày bà mất lên thanh xà ngang trong nhà vào mùa cây thay lá.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Xóm cầu thang

Cục diện bê-tông hóa đã thiết lập từ cao xuống thấp khi tòa nhà đi vào sử dụng. Cư dân ở đây tuyền ở quê lên, trong ký ức bùn theo chân lên tận giường, “hai xoa, ba đập” khuất mắt trông coi. Họ chỉ mong đoạn tuyệt được với bùn đất để làm người phố ra sáng vào bóng.

Ở Mường Nhé xa xôi cuối trời Tây Bắc chỉ cách đây chưa đầy 2 thập kỷ, con đường đất bằng phẳng thế này đã là mơ ước.

Người chờ trên đỉnh dốc

Đường sá lên cực tây Tổ quốc những ngày còn đang mở rộng và dần hoàn thiện thật sự là thử thách với bất kỳ một tay giang hồ ưa xê dịch nào. Và cái cuộc gặp mặt ăn Tết của Khụ Sự Trà với đồng bào Hà Nhì năm 2013 thật sự là cuộc gặp của nhiều kẻ yêu con người và thiên nhiên mạn ngược.

Mùi ký ức lan tiêu đã chín

Mùi ký ức lan tiêu đã chín

Có những buổi sáng, vừa mở cửa sổ, tôi chợt thấy thoang thoảng một làn hương dịu ngọt như mùi chuối chín. Hóa ra, cây lan tiêu nhà hàng xóm đã vào mùa. Mùi hương ấy không gắt gỏng, chẳng nồng nàn, chỉ như một hơi thở lướt qua.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Ngựa hồng qua dốc mây

Ngày trước tôi đã lỡ cuộc đi bộ với Sương lên đỉnh núi, giờ là lúc tôi hoàn thành việc này, cũng để có cái nói với Sương lúc gặp lại.

Con đường mòn biên giới

Con đường nhỏ bắt đầu bằng một ngã rẽ men theo vườn nhà dân. Một người đàn ông ngồi ngay ngắn bên lối đi, thu của mỗi người qua lại vài đồng lẻ. Nếu không có chỉ dẫn, chẳng ai biết đến con đường này. Dốc mỗi lúc một gắt. Dòng người ngược chiều lặng lẽ đi xuống, lưng oằn gánh hàng, mồ hôi đổ thành vệt trên gò má lạnh.