Theo báo cáo của Chính phủ về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện NSNN năm 2017 do Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng trình bày tại phiên họp UBTVQH ngày 14-5, tổng thu NSNN năm 2017 đạt 1.288.660 tỷ đồng, tăng 76.480 tỷ đồng (6,3%) so dự toán, tăng 49.160 tỷ đồng so báo cáo QH, tỷ lệ huy động vào NSNN đạt 25,73% GDP. Thu NS T.Ư, không kể số vượt thu viện trợ chi cho các dự án, giảm khoảng 4.800 tỷ đồng so dự toán, thu NS địa phương (ĐP) tăng khoảng 78.000 tỷ đồng so dự toán. Có 55/63 địa phương thu đạt và vượt dự toán. Có tám địa phương không đạt dự toán, chủ yếu do nguyên nhân khách quan…
Tuy nhiên, nếu không kể thu tiền sử dụng đất và các khoản thu không tính cân đối, có 30/63 địa phương đạt và vượt dự toán thu cân đối NSĐP khoảng 17.880 tỷ đồng, 33 địa phương hụt thu cân đối NSĐP khoảng 13.200 tỷ đồng so dự toán.
Về chi, tổng chi năm 2017 đạt 1.462.960 tỷ đồng, tăng 72.480 tỷ đồng (5,2%) so dự toán, tăng 49.160 tỷ đồng so báo cáo QH. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 365.500 tỷ đồng (chưa bao gồm số chi từ nguồn tăng thu NSĐP tiền sử dụng đất và xổ số kiến thiết là 65.480 tỷ đồng), tăng 2,3% so dự toán, tăng 3.300 tỷ đồng so báo cáo QH. Chi thường xuyên đạt 907.100 tỷ đồng, tăng 10.800 tỷ đồng so dự toán, giảm 781 tỷ đồng so báo cáo QH, bảo đảm các nhiệm vụ chi theo dự toán và xử lý kịp thời các nhiệm vụ cấp thiết phát sinh. Với kết quả thu, chi nêu trên, bội chi NSNN năm 2017 giữ ở mức báo cáo QH là 174.300 tỷ đồng, giảm 4.000 tỷ đồng so dự toán, bằng 3,42% GDP kế hoạch, bằng 3,48% GDP thực hiện, được bù đắp từ các khoản vay trong nước và ngoài nước theo quy định.
Trình bày Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm UBTCNS của QH Nguyễn Đức Hải lưu ý một số vấn đề về thu chi NSNN như: thu từ nội tại nền kinh tế còn chưa thật sự bền vững do thu từ cả ba khu vực DNNN, DN FDI và kinh tế ngoài quốc doanh thấp hơn so dự toán. Số tăng thu đạt được chủ yếu là nhờ tăng thu từ tiền sử dụng đất, tăng từ thu cổ tức và lợi nhuận còn lại của DNNN… Tiến độ giải ngân vốn đầu tư XDCB, vốn TPCP năm 2017 còn chậm hơn năm 2016. Chi đầu tư xây dựng cơ bản nguồn NSNN giải ngân chỉ đạt 86,3% dự toán, thấp hơn so năm 2016 (91,1%). Vốn TPCP chỉ giải ngân được 41,2% (năm 2016: 67,4%). Trong bối cảnh triển khai dự toán NSNN năm 2017 phải hạn chế bố trí dự toán cho dự án khởi công mới, ưu tiên tập trung cho trả nợ và các dự án hoàn thành, chuyển tiếp thì cần phải phân tích thật kỹ nguyên nhân dẫn đến giải ngân chậm.
UBTCNS đề nghị Chính phủ chỉ đạo chính quyền địa phương sát sao trong công tác triển khai, thực hiện vốn đầu tư phát triển, đồng thời nghiên cứu, xây dựng phương án sửa đổi Luật Đầu tư công trên cơ sở tham khảo ý kiến từ các bộ, ngành và địa phương để trình Quốc hội xem xét, quyết định.
Thẩm tra báo cáo của Chính phủ, UBTCNS của QH cơ bản thống nhất với Báo cáo và cho rằng năm 2017 là năm đầu triển khai theo Luật NSNN năm 2015 và nhiệm vụ tài chính - NSNN được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế trong sáu tháng đầu năm còn gặp nhiều yếu tố không thuận. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, sự nỗ lực của các cấp, ngành, DN... tình hình kinh tế - xã hội những tháng cuối năm đã có chuyển biến tích cực. Do đó, số thu NSNN quý IV đã tăng cao so cùng kỳ những năm gần đây, kết quả thu NSNN năm 2017 khả quan hơn so số đã báo cáo QH. Về thu, bốn khoản thu chủ yếu của NSNN đều đạt và vượt dự toán, cao hơn so số đã báo cáo QH. Kết quả thu NSNN này cho thấy những nỗ lực cao của Chính phủ, các bộ, ngành T.Ư và địa phương trong việc điều hành, quản lý, tổ chức thực hiện và sự đóng góp tích cực của cộng đồng DN.
Đánh giá về cân đối NSNN, UBTCNS của QH cho rằng, trong điều kiện NS T.Ư không đạt dự toán, đồng thời phải sử dụng 4.802 tỷ đồng từ nguồn dự phòng NS T.Ư để xử lý bù giảm thu năm 2017, việc giữ bội chi NSNN thấp hơn so dự toán và giảm mức vay của NSNN 9.749 tỷ đồng đã thể hiện sự cố gắng rất lớn của Chính phủ trong quản lý, điều hành.
Về tình hình nợ công, theo báo cáo của Chính phủ, đến ngày 31-12-2017, ước tính dư nợ công bằng khoảng 61,4% GDP, dư nợ Chính phủ khoảng 51,8% GDP, dư nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 49% GDP. Nợ công được quản lý, kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm trong giới hạn cho phép. Danh mục trái phiếu chính phủ (TPCP) được cải thiện cả về kỳ hạn và lãi suất; cơ cấu dư nợ vay trong nước chiếm khoảng 60% tổng dư nợ Chính phủ, dư nợ nước ngoài chiếm khoảng 40%; đa dạng hóa các nhà đầu tư (tỷ trọng nắm giữ trái phiếu của ngân hàng thương mại giảm còn 54% từ khoảng 78% cuối năm 2016).
Đồng tình với đánh giá này, UBTCNS cho rằng, nợ công đã được quản lý, kiểm soát chặt chẽ hơn, đã bám sát định hướng cơ cấu lại nợ công theo Nghị quyết số 07-NQ/TW. Điều này cho thấy, tác động của việc triển khai các giải pháp cơ cấu lại nợ trong nước của Chính phủ, danh mục TPCP được cải thiện, dài hơn về kỳ hạn và thấp hơn về lãi suất, đã góp phần giảm áp lực về nợ công so giai đoạn trước.