Không có bản sắc, bạn không là gì cả!
- Sự trở về của ông luôn được giới làm nhạc chuyên nghiệp Việt Nam chờ đợi, với họ, dường như đó là một sự kiện đặc biệt. Ông cảm nhận được điều này không?
- Tôi thì vẫn thấy mình nhỏ bé, khiêm tốn thế thôi. Nhưng tôi có thể cảm nhận được tình cảm của những người làm việc cùng tôi trong mỗi lần trở về. Khi chơi nhạc cùng với các nhạc sĩ Việt Nam, tôi cảm thấy có một mối liên hệ trực tiếp hơn, gắn bó hơn với quê hương, tôi cảm nhận rõ ràng hơn niềm tự hào được là người Việt Nam. Có một tình cảm đằm thắm và trìu mến khác lạ ngay khi mà tôi chơi những bài nhạc tôi vẫn chơi trước đây.
- Thời sinh viên, ông từng học ngành triết học. Âm nhạc không phải là giấc mơ đầu đời của ông sao?
- Hồi bé tôi thích hội họa, chỉ thích vẽ thôi. Lúc đó tất cả mọi người đều nghĩ rồi tôi sẽ làm gì đó liên quan đến vẽ vời. Nhưng khi 15 tuổi, tôi bắt đầu quan tâm đến âm nhạc. Tuy nhiên, lúc đó chẳng có ai nghĩ rằng tôi sẽ nghiêm túc theo đuổi nghề này, bản thân tôi cũng không nghĩ vậy. Tôi chọn triết học bởi vì tôi muốn theo đuổi một ngành học mang tính nghiên cứu. Vì cha tôi là một nhà sử học, tôi bị ảnh hưởng từ cha và cũng muốn đi theo con đường nghiên cứu khoa học. Nhưng sau đó thì âm nhạc đã chiếm lĩnh tôi rất nhanh, cuốn tôi đi theo con đường âm nhạc chuyên nghiệp.
- Nếu không có gợi ý của giáo sư Trần Văn Khê, liệu ông có tìm về với âm nhạc cổ truyền của Việt Nam?
- Thật ra thì câu chuyện hơi phức tạp hơn một chút. Giáo sư Trần Văn Khê là một người bạn của bố mẹ tôi, ông biết tôi từ khi tôi mới sinh ra và nhìn thấy tôi lớn lên. Khi tôi bắt đầu con đường âm nhạc và chơi ghi-ta điện thì giáo sư nói: "Phải để cho tuổi trẻ qua đi, cậu phải chơi cái gì khác". Tuy nhiên, lúc đó tôi còn quá trẻ, tôi vẫn tiếp tục chơi nhạc jazz với ghi-ta điện. Mãi rất lâu về sau tôi mới tìm về với cội nguồn âm nhạc Việt Nam.
- Vì một cú hích nào đó khác chăng, thưa ông?
- Vào năm 1989, khi tôi làm album đầu tiên, tôi đã đặt ra cho mình câu hỏi: Bản sắc của mình là gì? Khi anh muốn giới thiệu tác phẩm đến công chúng, anh phải cho người ta thấy cái gì là độc đáo, cái gì là bản sắc của anh. Nếu như anh giới thiệu một cái như tất cả mọi người thì anh chẳng có gì đặc sắc cả. Vậy là tôi bắt đầu đi tìm bản sắc cho mình. Và tôi đã quyết định tìm về với dòng nhạc truyền thống của Việt Nam. Bởi vì tôi là người Việt Nam. Âm nhạc truyền thống của Việt Nam cho phép tôi tìm lại bản ngã của mình, nguồn gốc của mình. Một điều thú vị hơn nữa là, ngay cả một số người Việt Nam, khi mà nghe những bản nhạc jazz mà tôi đã pha trộn âm nhạc truyền thống thì họ trở nên quan tâm hơn tới bản thân âm nhạc truyền thống.
- Rất nhiều nghệ sĩ trong nước cũng muốn đưa được âm nhạc Việt Nam ra với thế giới, nhưng dường như đó vẫn là một giấc mơ?
- Muốn đưa được âm nhạc Việt Nam ra thế giới thì chúng ta phải chọn một cách thể hiện nào đó để thế giới có thể hiểu được. Ðiều cần làm là phải hiểu về âm nhạc truyền thống của Việt Nam, rồi tìm hiểu cả âm nhạc thế giới và các nền văn hóa khác. Nếu bạn không hiểu họ thì bạn khó có thể tìm ra cách để đưa âm nhạc của mình đến với họ. Tôi yêu world music là vì vậy. World music có thể thể hiện thật rõ bản sắc của anh mà thế giới có thể hiểu được.
Lớn lên bằng tiếng hát ru của mẹ
- Nếu không phải vì âm nhạc, liệu ông có tìm về Việt Nam?
- Tôi đã về Việt Nam hai lần. Lần đầu tiên là năm 1979, tôi trở về cùng với ba mẹ và lần thứ hai tôi không nhớ rõ lắm, hình như là năm 2000, tôi về để nghỉ ngơi. Chuyến trở về năm 1979 có thể gọi là một khám phá lớn. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy ngôi nhà của gia đình tôi nằm ở phố Cửa Nam. Chiến tranh mới kết thúc bốn năm, mọi thứ còn rất ngổn ngang và tôi có thể cảm nhận được không khí khó khăn của tất cả các gia đình. Tôi thấy những nỗi cực nhọc mà mọi người phải chịu đựng thời kỳ đó. Tất cả những điều đó đọng lại trong tôi một ký ức rất mạnh mẽ.
- Không ít Việt kiều chia sẻ, họ thường cảm thấy rất cô đơn, vì họ không phải là người Việt, cũng không phải hoàn toàn là người của nước sở tại, nơi họ đang sinh sống. Còn ông?
- Thành thực mà nói, trước đây tôi cảm thấy chất Pháp trong con người tôi nhiều hơn chất Việt. Vào năm 1979, khi về Việt Nam lần đầu tiên, tôi không có cảm giác thân thuộc lắm. Khi tôi bước đi trên đường, người ta có thể biết ngay tôi là Việt kiều, dù cả bố mẹ tôi đều là người Việt. Cho tới khi tôi bắt đầu ra album, tôi tự nhủ mình là người Việt Nam, phải tìm kiếm và khơi dậy bản sắc Việt trong mình. Tìm hiểu âm nhạc Việt Nam, tôi mới khám phá ra nó là một phần trong con người tôi. Chất Việt dần dần hình thành và lớn lên qua từng tác phẩm mà tôi sáng tạo ra.
- Gìn giữ phong tục và truyền thống của người Việt có phải là điều được quan tâm nhiều trong cuộc sống của gia đình ông?
- Tôi được lớn lên bằng tiếng hát ru của mẹ. Trong gia đình, thi thoảng mẹ tôi vẫn nấu đồ ăn Việt Nam. Nào là phở, là nem, cá kho, thịt kho... và tôi đặc biệt thích món giả cầy. Ngon lắm! (Cười). Bà ngoại là người theo đạo Phật nên ngày nào bà cũng tụng kinh. Ngày Tết thì gia đình tôi vẫn tham gia tổ chức đón Tết trong cộng đồng người Việt ở Pa-ri. Nhưng phải nói thật là khi tôi còn thiếu niên, tôi cũng không quan tâm lắm đến các phong tục của người Việt hay người Pháp.
- Mỗi lần ông về Việt Nam, luôn thấy vợ ông có mặt trong tất cả các buổi tập, buổi diễn và ngắm nhìn chồng một cách say sưa, trìu mến. Hình như bà ấy rất yêu âm nhạc của ông?
- Tôi nghĩ mình là một người đàn ông may mắn (cười). Vợ tôi cũng là một nghệ sĩ. Chúng tôi từng chơi trong cùng một ban nhạc. Tôi có thể làm mọi việc cùng vợ mình, từ sáng tác, làm album, đi du lịch...
- Ông có dự định gì trong tương lai ở Việt Nam?
- Tôi thấy âm nhạc của các dân tộc thiểu số Việt Nam rất hay. Tôi sẽ trở về để gặp gỡ những nhạc sĩ của các dân tộc thiểu số cho những dự án âm nhạc trong tương lai.
- Xin cảm ơn ông.
* Nghệ sĩ Nguyên Lê tên thật là Lê Thành Nguyên, sinh năm 1959 tại Pa-ri. Ông là một nghệ sĩ ghi-ta cự phách với kỹ thuật chơi rất đặc trưng, pha trộn giữa rock, jazz, funk và các màu sắc âm nhạc cổ truyền của Việt Nam, Ấn Ðộ, Tuy-ni-di, Ma-rốc... Năm 1989, CD của ban nhạc Ultramarime do Nguyên Lê thành lập được báo Liberation đánh giá là CD world music hay nhất năm tại Pháp và ông được đánh giá là "gương mặt trung tâm của world music hiện đại". Tiếng gọi từ nguồn cội đã thôi thúc Nguyên Lê tự học đàn tranh, đàn bầu và tìm hiểu âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Năm 1996, CD Tales from VietNam của ông được tạp chí Jazztime (Mỹ) đánh giá là một kiệt tác. CD được các nhà phê bình âm nhạc khắp thế giới ca ngợi và nhận nhiều giải thưởng âm nhạc như: Diapason d’Or, Choc du Monde de la Musicque, Choc de I’année Jazzman, hạng Nhì Jazzthing 96...