Nan giải xử lý rác thải đô thị

Để giải quyết các vấn đề xử lý rác thải, bên cạnh những giải pháp đổi mới công nghệ từ nguồn vốn đầu tư của thành phố, rất cần thêm việc nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân. Từ đó đề xuất, kiến nghị Chính phủ, Quốc hội, các ngành và địa phương những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chất thải, từng bước đạt mục tiêu về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Nạn đổ trộm rác thải diễn ra ở nhiều nơi.
Nạn đổ trộm rác thải diễn ra ở nhiều nơi.

Kỳ 4: Gánh nặng cần sự chung tay

(Tiếp theo & hết)

Khó mở rộng điểm xử lý

Hiện nay, các bãi rác ở khu vực nội thành đều trong tình trạng quá tải hoặc sắp đầy. Còn tại nông thôn, do chưa có quy hoạch các bãi chôn lấp chất thải rắn (CTR) nên nhiều địa phương đã hình thành tự phát các bãi rác tạm tự phát với quy mô diện tích từ vài chục m² đến vài trăm m².

Tính trên địa bàn thành phố Hà Nội, tổng lượng rác thải sinh hoạt (RTSH) phát sinh từ khu vực nông thôn ước khoảng 2.500 tấn/ngày, trong đó, lượng rác thải cần phải thu gom xử lý ước khoảng 1.200 tấn/ngày, chiếm gần 61%. Tuy nhiên, do việc thu gom và xử lý rác thải khu vực nông thôn còn hạn chế (chỉ đạt 70%), dẫn tới tình trạng rác thải tồn đọng nhiều tại các điểm đổ rác, không vận chuyển đi xử lý kịp thời làm mất mỹ quan và gây ô nhiễm môi trường.

Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) Hà Nội Phạm Quốc Khánh cho biết, hình thức xử lý rác bằng phương pháp chôn lấp vốn là công nghệ đơn giản, chi phí đầu tư và vận hành thấp, song nhược điểm của hình thức này là tốn kém một diện tích đất lớn để xây dựng các bãi chứa rác. Thêm vào đó, các vấn đề về hạ tầng kỹ thuật, sự phối hợp giữa các đơn vị thực hiện vệ sinh môi trường và bộ máy thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về rác thải chưa được thống nhất cũng là một trong những nguyên nhân gây khó khăn trong công tác chỉ đạo và quản lý từ cấp thành phố.

Thực tế, việc quy hoạch khu vực xử lý rác thải mới cũng không phải dễ vì gặp phải sự phản đối của người dân sinh sống trong khu vực. Nguyên nhân phần lớn là do họ không còn tin tưởng vào việc các bãi mới này sẽ xử lý triệt để được ô nhiễm môi trường do bãi rác gây ra. Đồng thời, việc xe thu gom rác đi qua khu vực dân cư sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hằng ngày, đe dọa môi trường sống an toàn của người dân. Song song đó, quỹ đất dành cho việc xây dựng bãi rác ngày càng hạn hẹp nên việc quy hoạch càng trở nên khó khăn với các cơ quan chức năng. Thực trạng này không chỉ diễn ra trên địa bàn Hà Nội mà xảy ra chung trên cả nước.

Tăng cường hợp tác, đầu tư công nghệ

Hằng năm, ngân sách các địa phương đều dành nguồn kinh phí cho công tác thu gom, vận chuyển, xử lý CTR khá lớn. Riêng TP Hồ Chí Minh và Hà Nội dành khoảng 1.200 - 1.500 tỷ đồng/năm, chiếm khoảng 3,5% chi ngân sách thành phố; các địa phương khác trung bình khoảng từ 20 - 40 tỷ đồng/năm, những địa phương còn lại chi thấp nhất khoảng 3 - 10 tỷ đồng/năm.

Cùng với đó, chính sách xã hội hóa công tác quản lý CTR đã được triển khai và ngày càng mở rộng. Nhiều địa phương đã chủ động kêu gọi đầu tư xây dựng các cơ sở xử lý CTR và đưa vào vận hành. Điển hình như: Hà Nội có nhà máy đốt rác bằng công nghệ lò đốt Martin công suất 300 tấn/ngày, vốn đầu tư 270 tỷ đồng; Bình Dương có nhà máy xử lý CTR thành phân compost, công suất 420 tấn/ngày (vốn ODA Phần Lan); TP Lào Cai có nhà máy xử lý và chế biến rác thải công suất 100 tấn/ngày (vốn AFD); TP Đà Nẵng có nhà máy xử lý rác thải Khánh Sơn công suất giai đoạn 1 là 200 tấn/ngày...

Tại TP Hồ Chí Minh, theo đại diện Công ty CP đầu tư và phát triển Tâm Sinh Nghĩa (tiếp nhận 1.300 CTR sinh hoạt/ngày), mỗi ngày TP Hồ Chí Minh có hơn 8.000 tấn rác do ba đơn vị phụ trách xử lý. Riêng bãi rác Đa Phước (huyện Bình Chánh) do Công ty TNHH Xử lý chất thải Việt Nam làm chủ đầu tư, xử lý khoảng 5.500 tấn rác/ngày. Số còn lại được xử lý làm phân compost ở Phước Hiệp (huyện Củ Chi) do Công ty CP Vietstar và Công ty Tâm Sinh Nghĩa đảm nhận. Theo đại diện Công ty Tâm Sinh Nghĩa, với lượng chất thải lớn, phức tạp nên cần đòi hỏi phải có một công nghệ phù hợp điều kiện môi trường tại Việt Nam. Trong đó chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ xử lý rác, thu hồi năng lượng từ rác phát điện, nhằm tiết kiệm nguồn tài nguyên, hạn chế phát thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Theo Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong, đến thời điểm hiện nay, thành phố đã tiếp nhận nội dung đề xuất đầu tư xử lý rác phát điện của 40 nhà đầu tư. Với mục tiêu UBND thành phố Hồ Chí Minh đề ra là đến năm 2020, thành phố giảm tỷ lệ chôn lấp rác còn 50%; đến năm 2025 còn 20%. Đến năm 2030, 85% lượng rác thải sẽ được xử lý bằng hình thức đốt, với tổng sản lượng điện năng thu được từ đốt phát điện đạt hơn 200 MW. Hiện UBND thành phố đã đưa ra các dự án xử lý rác cần đầu tư, các chính sách ưu đãi đầu tư, giá mua bán điện tại thành phố.

Tại Thủ đô, những năm qua, Hà Nội đã được Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ kinh phí để thực hiện phân loại rác tại nguồn với chiến dịch mang tên 3R (Reuse: tái sử dụng, Reduce: giảm thiểu, Recycle: tái chế) và phần nào thu được những kết quả nhất định. Việc áp dụng 3R góp phần quan trọng làm giảm khối lượng, chi phí vận chuyển, tiết kiệm đất chôn lấp.

GS, TS Nguyễn Hữu Dũng (Viện Môi trường đô thị và Khu công nghiệp Việt Nam) cho rằng, chất lượng sống ở đô thị đang bị đe dọa nghiêm trọng, đặc biệt sức ép môi trường sống do không kiểm soát được lượng chất thải phát sinh. Trong khi đó, công tác xử lý RTSH tại các đô thị vẫn chủ yếu theo công nghệ chôn lấp. Mặc dù phương pháp này đơn giản, đỡ tốn kém chi phí nhưng hao tốn tài nguyên đất, chưa kể dễ gây ô nhiễm môi trường ở cả không khí lẫn nguồn nước. Về lâu dài, phải ưu tiên giải pháp áp dụng công nghệ tiên tiến vào khâu xử lý RTSH, không thể xử lý theo hình thức chôn lấp.

Theo nhận định của PGS, TS Phùng Chí Sỹ, Giám đốc Trung tâm công nghệ môi trường (Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam), đốt phát điện sẽ trở thành xu thế mới tại Việt Nam, do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa xảy ra với tốc độ cao, khối lượng chất thải phát sinh ngày càng nhiều. Mặt khác, CTR là nguồn tài nguyên tái tạo đem lại lợi ích kinh tế to lớn.

Huy động cộng đồng tham gia

Để đối phó nguy cơ không còn chỗ chôn lấp rác, giải pháp hiệu quả nhất trong vòng 10 - 20 năm tới là tiến hành thực hiện phân loại rác ngay tại nguồn, đồng thời huy động sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo vệ môi trường (BVMT).

Luật BVMT năm 2014 và văn bản hướng dẫn thi hành luật đã có những quy định khuyến khích xã hội hóa công tác BVMT, trong đó có những quy định phát triển dịch vụ môi trường thông qua hình thức đấu thầu và hợp tác đầu tư. Các văn bản được ban hành đã có nhiều quy định về cơ chế ưu đãi, hỗ trợ các doanh nghiệp, tổ chức thực hiện công tác BVMT (về đất đai, thuế, phí, tài chính, quảng bá sản phẩm...) phù hợp với thực tiễn. Có không ít các loại hình đầu tư phát triển vào lĩnh vực môi trường từ nhiều nguồn vốn được các tổ chức và cá nhân tham gia, bước đầu hình thành hệ thống dịch vụ môi trường ngoài công ích.

Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đang xem xét để ban hành Khung chính sách, pháp luật về phát triển dịch vụ môi trường, Đề án phát triển mạng lưới doanh nghiệp dịch vụ môi trường đến năm 2020 và một số cơ chế, chính sách tài chính phát triển dịch vụ môi trường ở Việt Nam. Tuy nhiên, vai trò của cộng đồng vẫn chưa được phát huy một cách đầy đủ. Hoạt động BVMT của cộng đồng còn hạn chế, nhiều nơi mang tính hình thức, thường không được đánh giá đúng mức và không được sự ủng hộ rộng rãi, thường xuyên.

Để giải quyết vấn đề ô nhiễm rác thải, bên cạnh các giải pháp đổi mới công nghệ từ nguồn vốn đầu tư của thành phố, rất cần thêm việc nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân nhằm chấn chỉnh hành vi xả rác, gây mất mỹ quan và ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, sự vào cuộc, chỉ đạo quyết liệt của chính quyền và các cơ quan chức năng liên quan sẽ góp phần thực hiện hiệu quả việc thu gom xử lý chất thải, qua đó từng bước cải thiện chất lượng môi trường sống của người dân.