1/Theo các chuyên gia, việc xây dựng các đô thị vệ tinh của Hà Nội đang có nhiều “điểm nghẽn” liên quan năng lực kết nối giao thông và một số bất cập tồn tại về đất đai. Để phát triển các đô thị này, cần kết nối nội vùng, nhưng thực tế liên kết giao thông trong các khu vực dự kiến phát triển đô thị vệ tinh tại Hà Nội còn yếu. Mật độ mạng lưới đường tại các đô thị vệ tinh mới chỉ đạt từ 1-1,2km/km2. Các tuyến đường hiện tại chủ yếu vẫn là đường cấp xã, thôn, quy mô mặt cắt nhỏ, chưa có tuyến đường liên kết tới các khu vực đô thị mới, dẫn tới thiếu động lực để phát triển.
Đặc biệt, mạng lưới vận tải công cộng chưa được hoàn thiện, hiện chỉ có tuyến xe bus thường trên các trục đường chính như đại lộ Thăng Long, các quốc lộ 21, 1, 6, 32, các đường Thăng Long-Nội Bài, Nhật Tân-Nội Bài… Mặt khác, do chậm triển khai các đồ án quy hoạch phân khu đô thị tại các đô thị vệ tinh nên đến nay các đồ án quy hoạch chi tiết và dự án đầu tư phát triển đô thị tại những khu vực này đều đang đình trệ.
Bên cạnh đó, tỷ lệ đất nông nghiệp tại các đô thị vệ tinh vẫn chiếm phần lớn, hơn một nửa số lao động trong các khu vực dự kiến hình thành đô thị vệ tinh vẫn đang hoạt động nông nghiệp. Theo quy hoạch, các đô thị Hòa Lạc, Xuân Mai, Phú Xuyên được định hướng phát triển công nghiệp, lấy công nghiệp công nghệ cao là ngành mũi nhọn. Song đến nay, diện tích đất công nghiệp tại các đô thị này vẫn chiếm quy mô quá nhỏ so mục tiêu đề ra. Trong đó, vùng Láng-Hòa Lạc khoảng 126ha (định hướng 401ha), đô thị Phú Xuyên 272ha (định hướng 800ha), đô thị Xuân Mai khoảng 122ha (định hướng 223ha)...
Các chuyên gia cho rằng, chủ trương phát triển hệ thống đô thị vệ tinh của Hà Nội là hoàn toàn phù hợp. Bởi đây là cơ sở để từng bước kéo giãn dân cư, giảm mật độ dân cư tại các khu vực nội đô; giảm ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường; phát triển hài hòa giữa khu vực trung tâm và vùng ngoại thành, tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, đổi mới cơ cấu đầu tư, thúc đẩy vai trò liên kết của Hà Nội với các tỉnh trong khu vực. Việc hình thành các đô thị vệ tinh cũng sẽ tạo sức hút đối với các trường đại học, bệnh viện, cơ sở sản xuất công nghiệp; giảm tải áp lực dân số lên hạ tầng đô thị tại khu vực nội đô. Tuy nhiên qua hơn 10 năm quy hoạch, năm đô thị vệ tinh vẫn chưa phát triển như kỳ vọng.
2/Trong số 31 đồ án quy hoạch phân khu tại các đô thị vệ tinh (phủ kín 100% diện tích nghiên cứu), đến nay có sáu đồ án gồm: ba quy hoạch phân khu đô thị Xuân Mai (khu 1, khu 2, khu 3) và ba quy hoạch phân khu đô thị Phú Xuyên (khu 1, khu 2, khu 3) đã được Sở Quy hoạch-Kiến trúc thẩm định, trình UBND thành phố Hà Nội xem xét phê duyệt trong thời gian cuối năm 2022. “Việc hoàn thiện những đồ án quy hoạch phân khu tại hai đô thị vệ tinh này sẽ tạo động lực để các địa phương, đơn vị tích cực vào cuộc tháo gỡ khó khăn, hoàn thành sớm những quy hoạch phân khu còn lại”, kiến trúc sư Lã Hồng Sơn, Phó Trưởng phòng Quản lý quy hoạch phát triển các đô thị vệ tinh và nông thôn thông tin.
Hà Nội cần đẩy nhanh tiến độ lập đồ án quy hoạch phân khu đô thị tại các đô thị vệ tinh nhằm cụ thể hóa quy hoạch chung. Từ đó chuyển đổi, điều chỉnh cơ cấu các loại đất trong các khu vực dự kiến xây dựng bảo đảm phù hợp quy hoạch. Cùng với đó, đề xuất, triển khai thực hiện các dự án đầu tư phục vụ phát triển kinh tế-xã hội địa phương. Ngoài ra, cần khuyến khích, thu hút đầu tư tạo thành các cực phát triển mới như đô thị vệ tinh Hòa Lạc, Sóc Sơn, Phú Xuyên… Trong xây dựng đồ án quy hoạch cần chú trọng các yếu tố nhằm hình thành môi trường sống lành mạnh, chất lượng cao, tạo sức hấp dẫn mọi đối tượng cư dân mới của đô thị.
Thực tế hơn 10 năm qua cho thấy, nếu tiếp tục kéo dài việc lập và phê duyệt quy hoạch, thành phố đang bỏ lỡ nhiều cơ hội phát triển kinh tế-xã hội. Đã đến lúc Hà Nội đẩy nhanh tốc độ hình thành các khu đô thị vệ tinh để khai thác có hiệu quả đất, tạo động lực thúc đẩy Thủ đô phát triển nhanh và bền vững.
Ông Ngô Trung Hải, Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam cho rằng, cần có cái nhìn cởi mở hơn về mô hình đô thị vệ tinh, từ đó kêu gọi xã hội hóa vào xây dựng hạ tầng cơ sở. Đây vừa là cách giảm áp lực cho ngân sách, vừa khai thác và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội trên cơ sở hài hòa lợi ích chung và riêng, lợi ích xã hội và doanh nghiệp.