1/Theo thống kê của Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở nước ta vào khoảng 60.000-70.000 tấn/ngày, trong đó khu vực đô thị chiếm 60%. Tỷ lệ thu gom xử lý tại khu vực nội thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 96,28%, tại khu vực ngoại thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 66%. Năm 2021, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh của TP Hà Nội là trên 6.000 tấn/ngày, TP Hồ Chí Minh là 8.900 tấn/ngày. Đến năm 2025, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt dự báo sẽ tăng 10-16%/năm.
Trong những năm gần đây, công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam tập trung chủ yếu chôn lấp và lò đốt. Theo các chuyên gia môi trường, hầu hết các địa phương đều đang áp dụng mỗi xã có một lò đốt quy mô nhỏ với công suất dưới 300kg/giờ. Với những lò đốt công suất nhỏ cấp xã này, hệ thống xử lý khí thải không có hoặc có nhưng không đạt yêu cầu. Đặc biệt nhiều nhân công vận hành lò đốt không đủ trình độ, kiến thức chuyên môn sẽ dẫn đến khả năng không kiểm soát được chất thải thứ cấp phát sinh, đặc biệt là dioxin/Furan.
PGS, TS Nguyễn Đình Thọ, Viện trưởng Chiến lược chính sách tài nguyên và môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết, trong tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom có đến 70% được xử lý bằng phương pháp chôn lấp, trong đó chỉ có 15% rác thải chôn lấp hợp vệ sinh. Đặc biệt, vấn đề xử lý nước rỉ rác là một việc rất phức tạp và tốn kém, nhất là công nghệ chôn lấp hiện nay vẫn chưa thu gom được khí metan (một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hiệu ứng khí nhà kính). Ông cũng cho biết, hạn chế lớn nhất hiện nay là chất thải hầu hết chưa được phân loại tại nguồn. Một số địa phương đã triển khai thí điểm chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn. Tuy nhiên việc phân loại chưa được nhân rộng, hiệu quả chưa cao, mang tính riêng lẻ.
2/Trong những năm qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và hoạt động khoa học thuộc lĩnh vực công nghệ xử lý chất thải rắn, trong đó trọng tâm vào chất thải rắn sinh hoạt song chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đặc biệt khi Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã có hiệu lực thi hành. Các giải pháp ứng dụng công nghệ tiên tiến còn chậm được áp dụng vào thực tế. Trong khi ấy, xu thế hướng tới nền kinh tế tuần hoàn trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt là tái chế, tái sử dụng và tận dụng năng lượng từ chất thải rắn đang được nhiều quốc gia trên thế giới tiến hành. Thực tế hiện nay đã có một số doanh nghiệp trong nước nghiên cứu và đưa vào sử dụng ở quy mô nhỏ hệ thống điện rác, một số doanh nghiệp đã nhập khẩu và đang hoàn thiện khâu phát điện. Tuy nhiên, việc xử lý chất thải rắn vẫn cần tập trung các hoạt động khoa học công nghệ mới đáp ứng được yêu cầu của thực tế.
GS, TS Đặng Kim Chi, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đánh giá, nhìn chung các công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt đã và đang được áp dụng tại Việt Nam còn nhiều hạn chế về mặt kỹ thuật, chưa thật sự phù hợp điều kiện của từng địa phương. Các công nghệ nước ngoài khi sử dụng tại Việt Nam gặp một số khó khăn do chưa được phân loại tại nguồn, độ ẩm cao, điều kiện thời tiết nhiệt đới đặc trưng dẫn đến chi phí xử lý cao, việc tiêu thụ phân hữu cơ vi sinh từ rác thải rất khó khăn. Kết quả là hiệu quả xử lý chất thải rắn sinh hoạt chưa cao, công tác phân loại phức tạp, máy móc thiết bị mau bị hư hỏng, ăn mòn, ổn định thấp, chiếm nhiều diện tích đất, phát sinh lượng lớn nước rỉ rác. Công nghệ compost có giá thành đầu tư, xây dựng thấp, song khó kiểm soát được mùi hôi và côn trùng trong quá trình lên men, tỷ lệ chất thải còn lại cao.
Thời gian qua, vẫn xảy ra nhiều vụ đổ trộm chất thải chưa qua xử lý ra môi trường, trong đó có chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp và nhiều loại chất thải nguy hại. Điều này cho thấy việc tuân thủ, thực thi nghiêm các quy định pháp luật về quản lý chất thải, bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ còn lỏng lẻo, thiếu sự quan tâm đúng mức. Quản lý chất thải rắn sinh hoạt là một trong những nội dung quan trọng được quy định mới trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Để thực hiện hiệu quả vấn đề này, cần có sự tham gia mạnh mẽ của doanh nghiệp, đồng thời Nhà nước cần tiếp tục có những chính sách khuyến khích thực hiện các mô hình kinh tế tuần hoàn tại doanh nghiệp, tăng cường thực thi pháp luật về quản lý chất thải. Cùng với đó, cần có các chính sách cụ thể ưu đãi cho các hoạt động xử lý để thu hút các doanh nghiệp tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ chất thải.