Khơi thông dòng nông sản xuất khẩu

Việt Nam là một quốc gia sở hữu nhiều lợi thế trong phát triển nông sản thực phẩm. Tuy nhiên, để nguồn trái cây bản địa của từng địa phương không bị thu hẹp trước giống hoa quả ngoại lai, cần vai trò lớn từ các doanh nghiệp (DN). Đặc biệt là trong việc tăng giá trị cho trái cây bản địa, kết hợp đổi mới sáng tạo, liên kết chuỗi để cuối cùng có những sản phẩm chế biến mới đáp ứng nhu cầu thị trường quốc tế. 

Chế biến sản phẩm xoài sấy dẻo. Ảnh: HỮU ĐỨC
Chế biến sản phẩm xoài sấy dẻo. Ảnh: HỮU ĐỨC

Kỳ 2: Gia tăng chế biến, tạo đầu ra cho trái cây bản địa

Tạo giá trị lớn từ trái cây bản địa

Vài năm nay, một số DN chế biến nông sản ở tỉnh Bến Tre đã phát triển rất tốt nhờ tập trung chuyên sâu vào khâu chế biến dừa bản địa thành nhiều sản phẩm hấp dẫn. Ngay cả các DN mới gia nhập thị trường cũng chuyên tâm cho việc chế biến dừa bản địa. Điển hình như Công ty CP đầu tư dừa Bến Tre (Bienco) đã có nhiều sản phẩm giá trị gia tăng từ dừa, như: nước cốt dừa nguyên chất, nước cốt dừa đậm đặc, dầu dừa, creamer dừa, snack dừa. Trong đó, sản phẩm creamer béo đặc được cho là có thể thay thế cho sữa động vật, vì đây là sản phẩm từ thực vật, thuần chay.

Bà Võ Nguyệt Phương Hằng, phụ trách marketing của Bienco cho biết, đó là những sản phẩm được chế biến sâu, tạo ra giá trị lớn cho giống dừa bản địa Bến Tre. Những sản phẩm này hiện đã và đang xuất khẩu (XK) đi nhiều nơi, bán trên nhiều trang thương mại điện tử (TMĐT) trong nước và quốc tế, như: Tiki, Lazada, Shopee, Amazon.

Tương tự, Công ty TNHH Công nghệ thực phẩm Việt - Đức (Đồng Tháp) chú trọng nâng giá trị cho một số trái cây bản địa trong tỉnh. Điển hình như sản phẩm xoài sấy dẻo do công ty chế biến từ giống xoài Cát Chu mà Đồng Tháp có 9.400 ha chuyên canh, chiếm 85% diện tích trồng xoài của tỉnh Đồng Tháp. Hiện nay, DN này đã nâng công suất chế biến trái cây của nhà máy lên gấp 10 lần so giai đoạn đầu, mỗi năm sử dụng 10.000 tấn nguyên liệu cho ba đơn hàng của Nga, Đức, Nhật Bản. Việc khai thác, chế biến nguồn trái cây bản địa của DN rất hiệu quả, ngoài trái xoài còn có thanh long, chuối, mãng cầu, đu đủ, ớt… Năm 2019, riêng mặt hàng xoài sấy dẻo, DN này nhận đặt hàng từ Liên hiệp châu Âu (EU) khoảng 500.000 - 600.000 euro.

Theo ông Võ Phát Triển, người sáng lập Công ty TNHH Công nghệ thực phẩm Việt - Đức, công ty đã đầu tư 5 triệu euro vào nhà máy chế biến để có công nghệ, thiết bị tối tân, sản phẩm đạt tiêu chuẩn HACCP, ISO 22.000-2005, BRC, Eurofins.

Đây chỉ là hai trong rất nhiều thí dụ minh chứng cho việc nâng giá trị cho trái cây bản địa rất cần những DN chế biến và cũng là biện pháp để không bị thu hẹp diện tích trồng trọt. Tại một hội thảo bàn về phát triển tài nguyên bản địa và đổi mới sáng tạo tổ chức ở Đồng Tháp mới đây, một chuyên gia của Hội DN Hàng Việt Nam chất lượng cao lưu ý tình trạng xoài Cát Chu của Đồng Tháp và xoài cát Hòa Lộc của Tiền Giang có quãng thời gian bán không chạy và cũng không được đặt hàng trước như loại xoài Tứ Quý của Đài Loan (Trung Quốc). Nhiều nông dân đã chặt các loại xoài này để trồng xoài Tứ Quý cho dễ bán. Vì sinh kế, canh tác tự phát, nên người nông dân mở rộng diện tích trồng xoài Tứ Quý, trong khi xoài bản địa dần bị thu hẹp.

Do đó, theo các chuyên gia, rất cần có các DN đứng ra liên kết sản xuất để giữ nguồn trái cây bản địa của từng địa phương, đưa ra thị trường nhiều sản phẩm mới từ cây bản địa, kết hợp với đổi mới sáng tạo để cuối cùng có những sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường quốc tế.

Về thách thức lớn của trái cây bản địa ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), PGS, TS Nguyễn Minh Châu, nguyên Viện trưởng Cây ăn quả miền Nam cho rằng, sản xuất trái cây ở ĐBSCL vẫn còn nhỏ lẻ, tự phát, còn thiếu liên kết sản xuất. Thực tế cho thấy, việc tăng diện tích trồng các giống xoài ngoại lai có thể mang lại rủi ro khi người nông dân đổ xô vào trồng. 

Theo TS Nguyễn Minh Châu, sản xuất và lưu thông phân phối chưa theo chuỗi giá trị, mà bị cắt khúc, nên mặc dù nông dân bán ra với giá chưa cao, nhưng người tiêu dùng (NTD) vẫn phải mua với giá rất cao. Thí dụ xoài cát Hòa Lộc loại 1, hay  bưởi da xanh loại 1 từng có giá cao hơn trái cây Thái-lan nhập khẩu. Điều này cho thấy nếu có chuỗi giá trị tốt hơn thì NTD đã không phải trả giá cao như vậy và đầu ra của trái cây bản địa cũng không phải chịu cảnh được mùa, mất giá.

Những trái cây đặc sản bản địa như xoài cát Hòa Lộc và bưởi da xanh có trồng bao nhiêu ở ĐBSCL cũng không đủ XK vì ngon hơn so giống cùng loại ở các nước trong khu vực. Vấn đề quan trọng là để trái cây bản địa có hướng phát triển bền vững thì cần liên kết sản xuất mạnh hơn nữa, xây dựng những mô hình sản xuất theo hướng chất lượng cao, xây dựng thương hiệu, gia tăng chế biến theo hướng hiện đại…

Gia tăng sức chống chịu cho trái cây Việt Nam

Việc hỗ trợ tiếp cận các thị trường mới và đa dạng sẽ giúp tăng doanh thu XK trái cây và mở rộng sản xuất. Điều này còn giúp cải thiện sức chống chịu của ngành hàng trái cây trước các cuộc khủng hoảng, như dịch Covid-19. Nếu quan sát tình hình XK trái cây gần đây sẽ thấy, với tác động của dịch Covid-19 thì hầu hết các mặt hàng trái cây chủ lực đều có kim ngạch XK sụt giảm, đặc biệt là tại thị trường truyền thống chính như Trung Quốc. 

Tuy nhiên, tính từ đầu năm đến nay, so sụt giảm ở thị trường Trung Quốc thì XK trái cây Việt Nam sang các quốc gia ASEAN tuy có giá trị XK chưa thể sánh kịp nhưng lại có mức độ tăng trưởng cao hơn cùng kỳ năm ngoái. Số liệu trong quý I - 2020 cho thấy kim ngạch XK rau quả sang Indonesia đạt 2,1 triệu USD so cùng kỳ năm ngoái chỉ là 164.800 USD. Hoặc như Thái-lan từ 7,6 triệu USD tăng lên 35,2 triệu USD; Lào từ 2,6 triệu USD tăng lên 9,6 triệu USD; Campuchia từ 340.000 USD tăng lên 885.300 USD. Thị trường Nga cũng tăng từ 2,4 triệu USD lên 8,2 triệu USD trong quý I năm nay. Với những thị trường chủ lực khác như: Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc... do tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nên gia tăng kim ngạch XK rau quả trong lúc này là rất khó. Tuy nhiên, có thể thấy việc cơ cấu lại thị trường XK theo hướng đa dạng hóa thị trường, tránh phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc phải tiếp tục đẩy mạnh trong thời gian tới.

Về vấn đề này, ông Kyle Kelhofer, Giám đốc Quốc gia của IFC (thành viên của Nhóm Ngân hàng Thế giới) tại Việt Nam, Campuchia và Lào cho rằng, việc tiếp cận các thị trường mới và đa dạng sẽ giúp tăng doanh thu XK nông sản và mở rộng sản xuất. Điều đó còn giúp “cải thiện khả năng chống chịu” của các DN nông nghiệp Việt Nam trước những sụt giảm đột ngột về nhu cầu ở một số thị trường do các cuộc khủng hoảng gây ra.

Và để hỗ trợ nỗ lực mở rộng thị trường XK cho trái cây chất lượng cao của Việt Nam, mới đây IFC đã ký biên bản ghi nhớ với Cục Bảo vệ thực vật (BVTV), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhằm đẩy mạnh XK và tăng thu nhập cho người nông dân thông qua những cải thiện về chất lượng. 

Cục trưởng BVTV Hoàng Trung cho rằng, việc hợp tác sẽ hỗ trợ thúc đẩy những nỗ lực nhằm hiện thực hóa tiềm năng XK và sẽ là cơ sở để mở rộng áp dụng cho các sản phẩm nông nghiệp khác. Cụ thể, trong bốn năm tới, IFC sẽ phối hợp Cục BVTV với trọng tâm chủ yếu là mở rộng XK những trái cây đạt tiêu chuẩn quốc tế, như thanh long và chanh leo. 

Thực tế, thanh long và chanh leo là nhóm sản phẩm trái cây có tốc độ tăng trưởng sản xuất và XK nhanh nhất với tiềm năng mạnh mẽ trong tiếp cận các thị trường giá trị cao. Trái thanh long vốn chiếm đến một phần ba tổng kim ngạch XK trái cây của Việt Nam. Trước khi có dịch Covid-19, thanh long XK sang khoảng 40 nước và vùng lãnh thổ. Trong đó thị trường tiêu thụ chính là Trung Quốc chiếm 80%. 

Còn chanh leo là một trong những loại trái cây có nhu cầu cao trên thị trường toàn cầu, với sức tiêu thụ hàng trăm nghìn tấn quả tươi/năm và khoảng hơn 30.000 tấn nước ép cô đặc/năm. Tiềm năng XK chanh leo của Việt Nam là rất lớn. Và các DN XK chanh leo thay vì chú trọng xuất sang Trung Quốc như lâu nay thì có thể cập nhật thông tin từ những thị trường mới để nhanh chóng tiếp cận. 

Như chia sẻ của ông Kyle Kelhofer, với việc thâm nhập thị trường mới, sẽ giúp bảo vệ việc làm và sinh kế cho hàng triệu công nhân và nông dân trong ngành kinh doanh nông nghiệp và xây dựng một ngành nông nghiệp bền vững theo định hướng XK có giá trị gia tăng cao hơn tại Việt Nam. 

(Còn nữa)