Hòa tiếng xưa Pa Co vào thực tại

Trong thung lũng A Vương (xã Tà Rụt, Đa Krông, Quảng Trị), Mai Hoa Sen thuộc lớp nghệ nhân cao tuổi của dân tộc Pa Co, đau đáu giữ những giá trị truyền thống, lại muốn những giá trị xưa giao thoa với nền văn hóa mới. 

Nghệ nhân Mai Hoa Sen thổi khèn cùng con trai và bạn bè.
Nghệ nhân Mai Hoa Sen thổi khèn cùng con trai và bạn bè.

Tình nghệ sĩ

Đến đỉnh Cộk Xổi thuộc thung lũng A Vương phải băng rừng từ đường Hồ Chí Minh, men theo những lối mòn đầy vắt rừng, một bên là núi đá chênh chao, một bên là vực hun hút. Sau gần hai giờ đồng hồ đi bộ, chúng tôi thoảng nghe trong tiếng thác nước xa xa là tiếng đàn Ăng Krao réo rắt, như tiếng những người con gái, con trai tâm tình bên bờ suối vào những mùa đi sim. Hồ Văn Hưng, người dẫn đường cho chúng tôi háo hức: Đấy! Tiếng đàn của Mai Hoa Sen.

Ngôi nhà lưng chừng núi, bóng chiều dần buông, chúng tôi gặp Mai Hoa Sen khi ông lùa đàn gia súc từ trên núi về. Nơi căn nhà mới cất, ông mời khách cùng ngồi uống rượu bên bếp lửa hồng. Đặt chén rượu xuống sàn, ông đập tay làm nhịp. Điệu hát Ka Lơi cất lên nồng nàn, đây là điệu dân ca người Pa Co thường dùng mỗi dịp khách đến chơi nhà. Ánh lửa hồng chấp chới rạng tỏ trên khuôn mặt đã in dấu thời gian với những nét nghệ sĩ không thể lẫn.

Mai Hoa Sen vốn sinh ở bản Tân Đi (xã A Vao, Hướng Hóa, Quảng Trị). Tên cha sinh mẹ đẻ đặt cho ông là Cu Xel Ka Lang, sau đó ông mới… “tự ý” đổi thành Mai Hoa Sen, ông nói như cắt nghĩa: “Mai là tên người con gái mà tôi yêu, một trong bốn thanh niên xung phong hy sinh trong trận bom B52 trút xuống ở A Lưới năm 1966, Hoa là biểu trưng cho vẻ đẹp của người con gái đó, còn Sen là tên tôi…”. 

18 tuổi, Mai Hoa Sen học Trường Sĩ quan Lục quân 1, sau đó chuyển về Trường trung cấp Kỹ thuật 557 tại Vĩnh Phú. Năm 1971 ông về Xưởng A32 Quân khu Trị Thiên làm nhiệm vụ sửa chữa, bảo dưỡng trang thiết bị quân đội. Năm 1975 ông phụ trách gỡ bom mìn ở địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Năm 1977 trở về phục viên. Sau 34 năm lăn lộn khắp nơi chiến đấu và phục vụ chiến đấu, hành trang của ông vẫn luôn có chiếc đàn Ăng quại (đàn môi) bên mình, những điệu nhạc réo rắt cất lên từ chiếc đàn nhỏ đã giúp ông cùng đồng đội xua tan mệt nhọc và nỗi nhớ quê hương. Bước chân của ông đến những miền đất mới thì từng khúc hát, bài hát lại nối tiếp ra đời vừa để phục vụ chiến đấu vừa là cái tấm lòng của ông trải ra cùng với những vẻ đẹp của núi sông, con người.

Từ thời người dân bản làng ông còn “theo dấu chân nai đi trồng hạt lúa, theo dấu chân hổ đi trồng hạt ngô”, lấy câu hát làm người bạn đường, lấy tiếng hú để tìm thấy nhau; những người mẹ địu con làm rẫy hát lên những khúc hát Akay (khúc hát ru con); những ngày hội làng, bên bếp lửa hồng, nâng ché rượu nồng nghe già làng hát những khúc hát của điệu Ka lơi (khúc hát mời khách chung vui bên ché rượu); rồi những đêm trăng sáng, những buổi đi sim trong không gian tươi đẹp của núi rừng, bên suối những người con trai, con gái lại hát cho nhau nghe những điệu hát Cha chấp (hát đối đáp) để thổ lộ tâm tình của mình, lúc đó Mai Hoa Sen đã bộc lộ năng khiếu đặc biệt về nghệ thuật. Những bài dân ca ấy ông chỉ cần nghe qua một lần là nhớ. Có những bài hàng trăm câu hát ông chỉ nhẩm qua một lần là thuộc. Ông nói: “Từ những câu hát ấy, nếu chú ý thì rất dễ thuộc, phiên âm ra chữ quốc ngữ thì không vần, nhưng tiếng Pa Co thì rất vần”.

Đêm, bên bát rượu, ngoài trời sương giăng mắc, trăng thượng tuần như khoác một tấm áo lên những đỉnh núi. Đưa tay mở cánh cửa gió, Mai Hoa Sen lại mang chiếc đàn Talư ra để đánh và hát một làn điệu dân ca của người Pa Co, điệu hát vang lên trầm buồn du dương. Đó là điệu hát Terateck (tên một loài ve có tiếng kêu rất buồn), điệu hát dành cho đôi lứa yêu nhau thổ lộ tâm tình, là lời tâm sự của chàng trai khi tình yêu không được đáp trả.

Hòa tiếng xưa Pa Co vào thực tại -0
Ngôi nhà của nghệ nhân già Mai Hoa Sen ở thung lũng A Vương. 

Bám sát cuộc sống

Chín làn điệu dân ca thuộc nằm lòng, 12 nhạc cụ truyền thống tay quen chế tạo, nghệ nhân Mai Hoa Sen trở thành báu vật sống của núi rừng Trường Sơn. Nhưng đối với ông, nghệ thuật đơn giản xuất phát từ cuộc sống và cũng vì cuộc sống mà cống hiến. Ông nói: Ngày xưa, những nhạc cụ cũng vì cuộc sống của con người mà xuất hiện, thứ thì dùng để thổ lộ tấm lòng như đàn môi, khèn bè… thứ để truyền tín hiệu như tù và, Càdọc adòn (tù và loại nhỏ)… những làn điệu dân ca cũng vì cuộc sống mà phục vụ như điệu hát Akay (ru con), điệu Ka lơi (khúc hát mời khách chung vui bên ché rượu), điệu Terateck (điệu hát tỏ tình trai gái)…. Nên trong cuộc sống cũng cần phải vận dụng những làn điệu nhạc cụ đúng hoàn cảnh, đúng mục đích thì cái hồn mới giữ được.

Mai Hoa Sen còn sáng tác những bài hát mới, kết hợp khéo léo 12 làn điệu dân ca thuộc nằm lòng với câu hát mới sáng tác. Những bài hát cứ tự nhiên vang lên trong đầu ông mà không hề cần giấy bút ghi lại, đó cũng là những lời gan ruột của ông giãi bày với quê hương đất nước. Những bài hát như: “Chiếc mũ tai bèo”, “Lá thư hậu phương”, “Con dốc Tỳ Ngôi”, “Nhớ mãi không quên”… đều bám sát thực tế chiến đấu và cuộc sống của người lính, trong những năm tháng ông còn trong quân ngũ. 

Cho đến bây giờ, nghệ nhân Mai Hoa Sen vẫn không thể nào quên kỷ niệm ngày mình trở về, khi những bà, những mẹ già run rẩy bước xuống những bậc cầu thang ôm chầm lấy ông và hỏi những người con, người cháu, người chồng của họ sao lại chưa trở về? Trong vòng tay của các bà, các mẹ, các chị ông nghẹn ngào và không thể nào trả lời được, bởi có những đồng đội, những người anh em đồng hương cùng ra đi nhưng chẳng có được ngày về. Và ngay tối hôm đó bên bếp lửa, nơi bậc nhà sàn ông đã đánh chiếc đàn A Ble cất lên bài hát cảm thương cho những người ra đi. 

Năm 1977, Mai Hoa Sen phục viên trở về lao động sản xuất cùng bà con, dân bản. Ông tâm sự, ngày đó, thấy đồng bào mình còn phá rừng nhiều quá, mảnh đất ngày nào còn “nằm ngửa thấy ong, nằm nghiêng thấy cá” nay tác tan, trọc lốc, đến mỗi mùa mưa lũ đất đai hoa màu lại theo nước lũ mà đi mất. Đau đớn với rừng xanh, với những tiếng vượn hót đẫm chất nguyên sơ của núi rừng. Nhưng làm sao để người dân hiểu, đặc biệt là lớp trẻ phải giữ lấy mầu xanh của rừng. Qua cách nhìn nghệ thuật đậm chất nhân sinh, sau nhiều đêm suy nghĩ ông sáng tác bài hát “Giữ lấy rừng xanh” lời của người Pa Co nhưng nhạc lại theo điệu hip hop để lớp trẻ dễ nhớ, dễ hiểu mà làm theo. Bài hát rộn ràng của ông được lớp trẻ đón nhận nhiệt tình “Các bạn ơi! Ơi! tới đây lắng mà nghe, nghe tôi kể chuyện. Chuyện gì? Chuyện là chuyện đừng phá rừng già, đừng phát rừng nguồn, để chống xói mòn, chống lũ lụt khỏi trôi cửa nhà dân làng ta, a hà ha. Từ xưa ta nghe lời Bác, lời Đảng, gái trai, trẻ già ta thi đua bảo vệ rừng già, ta thi đua bảo vệ rừng nguồn…”.

Đã tám năm nay người nghệ nhân già ấy đã chuyển gia đình mình lên núi làm kinh tế, ông trở thành người đầu tiên trong bản Kahep của xã Tà Rụt, huyện Đa Krông lên đỉnh núi làm kinh tế trang trại. Ông nói “mình là đảng viên mình phải gương mẫu trong phát triển kinh tế”. Bây giờ, với diện tích đất gần bảy ha của mình ông quy hoạch nuôi hàng chục con dê, bò và trâu kết hợp nuôi cá. Mỗi ngày khi nắng chiều sắp tắt, những đàn bò đàn dê của ông lại tìm đường về trại trong tiếng khèn trầm bổng của người chủ.

“Lớp trẻ bây giờ lại không mặn mà với văn hóa truyền thống”, ông nói mà đượm buồn. Phải chi những làn điệu, những bài hát của ông được lưu giữ lại, phải chi lớp trẻ mặn mà hơn với nhạc cụ truyền thống. Đã có biết bao nghệ nhân vốn là “cái kho” lưu giữ những làn điệu dân ca, họ ra đi thì những bài dân ca đã chết đi và giá trị đó sẽ mất đi mãi mãi, chẳng bao giờ còn lại. Đưa mắt nhìn đứa con trai tên Hồ Công, giờ đây đã bắt đầu đánh được các nhạc cụ đơn giản, những làn điệu dễ nhớ, nghệ nhân Mai Hoa Sen bảo nó mới chỉ thích thú với các giá trị văn hóa cổ truyền. Nhưng thích thú thôi thì chưa đủ, cần phải biến niềm yêu thích thành đam mê. Điều đó đòi hỏi thời gian và một sự am hiểu nhất định. Đặc biệt là đối với các bài dân ca, bên cạnh đó cũng cần một năng khiếu bẩm sinh. Ánh mắt người nghệ nhân già lo lắng nhìn ra phía trời đêm.