1. Nguyễn Tỵ luôn có khả năng biến một cây ghi-ta bình thường thành một "nghệ sĩ" đầy tâm trạng, có thể ngân lên biết bao giai điệu du dương, trầm bổng. Mấy chục năm chơi đàn, niềm đam mê ấy vẫn nồng cháy, vẹn nguyên.
Nguyên do khiến Nguyễn Tỵ "bén duyên" ghi-ta là thời chiến tranh, trong một lần đi sơ tán, ông tình cờ được một vài người bạn rủ đi chơi. Cả nhóm gặp một người vừa chơi ghi-ta vừa hát rất hay, ngón tay bấm lên phím đàn vô cùng điêu luyện, mái tóc bồng bềnh phiêu lãng. Tiếng hát và tiếng đàn nồng ấm của cây đàn ghi-ta đã hớp hồn Nguyễn Tỵ, khiến chàng thanh niên cũng ao ước mình có thể chơi được như thế. Trở về Hà Nội, Nguyễn Tỵ liền mầy mò tìm kiếm tài liệu, ngày đêm tự luyện tập ngón đàn. Ðến khi gặp duyên kỳ ngộ, kết thân với nhóm bạn, đều là "dân nghiện" ghi-ta như Hải Thoại, Vũ Bảo Lâm, Phạm Văn Phúc..., chàng Nguyễn Tỵ mới thật sự trở thành "tín đồ" của môn nghệ thuật này. Họ cùng tập, cùng chơi và thắp lên niềm đam mê, bồi dưỡng tài năng cho nhau giữa thời bom đạn ác liệt. Từ năm 1956, nhóm ghi-ta cổ điển của Nguyễn Tỵ đã kết nạp dần các thành viên gồm Ðặng Quang Khôi, Hải Thoại, Phạm Văn Phúc, Vũ Bảo Lâm, Quang Tôn, Nguyễn Tỵ và Ðỗ Trường Giang. Họ thường cùng tìm tài liệu, băng đĩa để tập luyện và biểu diễn ở các câu lạc bộ tại Hà Nội, các công viên, công trường xây dựng... Năm 1960, Sở Văn hóa Hà Nội tổ chức Cuộc thi ca nhạc chuyên nghiệp và nghiệp dư, Nguyễn Tỵ giành giải nhất độc tấu ghi-ta với bài "Mời anh đến thăm quê tôi". Kể từ đó, nhiều người biết đến một cây ghi-ta cừ khôi như Nguyễn Tỵ và tìm đến nhờ ông dạy đàn. Cũng năm đó, xưởng phim Việt Nam tuyển diễn viên. Nguyễn Tỵ là một trong ba người "trúng vé" trong số hàng nghìn người ứng thí. Nhưng ông không chọn nghiệp diễn viên mà đi làm cơ khí. Hỏi, ông bảo mình thích làm anh thợ cơ khí và chơi ghi-ta.
Năm 1973, lần đầu tiên nhóm ghi-ta được mời cộng tác với Ðài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam, sau đó được Hội Nhạc sĩ Việt Nam thành lập câu lạc bộ, được đặt lịch biểu diễn thì giới trẻ Hà Nội lúc đó càng thích tiếng ghi-ta hơn. Nguyễn Tỵ kể, nhóm của ông đã tạo ra một hiệu ứng âm nhạc ở Thủ đô và Hải Phòng. Có thời gian, nhóm biểu diễn một ngày ba ca ở Nhà hát lớn Hải Phòng. Nghệ sĩ Nguyễn Tỵ đã dày công soạn phần nhạc các ca khúc như: "Hà Nội mùa thu", "Vui mở đường", "Bài ca Hồ Chí Minh", "Ngày mùa", "Tiếng đàn Ta-lư", "Bước chân trên dải Trường Sơn", "Thương một người", "Chăm học chăm làm"... thành những tác phẩm dành riêng cho cây đàn ghi-ta cổ điển. Những tác phẩm này cũng được ông ghi băng, đĩa để làm tài liệu giảng dạy cho học trò, đây là điều khiến bè bạn cùng thời rất nể phục. Ngoài ra, ông còn chuyển soạn nhiều tác phẩm nước ngoài như "Ðôi mắt huyền" (Digan), "Dòng sông xanh", "Cây thùy dương", "Lòng mẹ"... để làm giàu thêm vốn âm nhạc ghi-ta của mình.
2. Nguyễn Tỵ giờ đây là Trưởng môn phái Nam Hồng Sơn - môn phái được sáng lập bởi cha ông là võ sư Nguyễn Nguyên Tộ (1895-1984), tức Sáu Tộ- võ sư nổi tiếng trong làng võ miền bắc. Nghe nói võ sư Nguyễn Nguyên Tộ từng theo học ba người thầy - cũng là những người anh kết nghĩa: Ba Cát, Cử Tốn và Hàn Bái (vốn là các võ sư gốc Hoa thuộc Thiếu Lâm Nam phái phiêu bạt sang Việt Nam). Năm 1920, võ sư Sáu Tộ hệ thống hóa lại các kỹ năng võ thuật gốc Thiếu Lâm, kết hợp thêm những tinh hoa của võ cổ truyền Việt Nam để sáng lập nên môn phái Nam Hồng Sơn tại làng Thể Giao (nay đã trở thành công viên Thống Nhất - Hà Nội).
Nguyễn Tỵ sinh năm 1937 tại xã Văn Hội - Thường Tín, Hà Nội, đã được cha truyền dạy võ nghệ từ năm lên chín tuổi, và năm 17 tuổi ông bắt đầu dạy võ cho thanh niên, đội tự vệ quê nhà, góp phần gìn giữ trật tự, an ninh cho làng xóm. Năm 1984, võ sư Nguyễn Nguyên Tộ qua đời, truyền lại ngôi Trưởng môn phái Nam Hồng Sơn cho con trai cả Nguyễn Tỵ. Cũng trong năm này, nhận lời mời của Sở Thể dục - Thể thao Hà Nội, võ sư Nguyễn Tỵ đảm nhiệm cương vị Phó Chủ tịch Hội võ thuật Hà Nội và là Ủy viên Hội đồng cố vấn. Năm 1998, ông vinh dự là một trong năm võ sư được Ủy ban Olympic Quốc gia phong tặng danh hiệu võ sư cao cấp. Chỉ riêng tại Hà Nội, với 14 võ đường, môn sinh phái Nam Hồng Sơn từng có lúc lên tới vài nghìn người. Nhiều học trò của Nguyễn Tỵ sau này trở thành những võ sư nổi tiếng, có nhiều đóng góp cho phong trào võ thuật Thủ đô và cả nước như: Huy Ðông (HLV đội tuyển Quốc gia pencak silat), Văn Thế... hoặc võ sư Chu Tấn Cường (đang sinh sống tại CHLB Ðức) từng có chương trình biểu diễn nội công gây tiếng vang khắp châu Âu, lập bảy kỷ lục ghi-nét thế giới.
3. Ðối với Nguyễn Tỵ, võ nghệ và âm nhạc tuy là hai loại hình khác nhau, nhưng tựu trung chỉ là một, bởi cả hai đều cùng là nghệ thuật. Ông nói rằng, hoạt động cơ bắp không ảnh hưởng gì đến ngón tay đàn và quả tim đập vì nghệ thuật. Khi luyện võ, căng cơ, chỉ cần nghỉ ngơi 15 phút là lại chơi đàn bình thường. Ông cho biết: "Sự mạnh mẽ của con nhà võ học đôi khi làm tăng hiệu quả của những nốt đàn. Nó giúp người chơi đàn nói lên được những khúc nhạc cần phải mạnh, thể hiện đúng tâm trạng như buồn đau, như dồn nén, như muốn bứt phá...".
Hai năm nay, Nguyễn Tỵ mỗi tuần chỉ đứng lớp một buổi vào sáng thứ bảy để tập huấn cho các huấn luyện viên của môn phái Nam Hồng Sơn. Ông dành nhiều thời gian hơn cho việc dạy đàn, chơi đàn và ngao du với những người bạn trong "Thất cầm" còn sống ở Hà Nội như Bảo Lâm, Phạm Văn Phúc, Quang Tôn. Tình bạn của họ vẫn khăng khít, không gì thay đổi. Lớp học đàn của Nguyễn Tỵ ở một con hẻm trên phố Hồng Mai vẫn nhộn nhịp học trò. Khi thì một nhóm, khi khác lại chỉ một thầy, một trò ngồi đối diện với nhau. Học trò thích cách dạy nhiệt tình, hồn hậu của thầy Nguyễn Tỵ. Ngay cả cái cách thầy giảng, lúc nào cũng có một nụ cười nhân hậu trên môi. Và như thế, trong ngôi nhà của ông, tiếng đàn tha thiết du dương vẫn ngân lên, ngân lên như mấy mươi năm qua, như không bao giờ biết im lặng. Cảm như càng có tuổi, tiếng đàn của ông càng trong trẻo, thanh thản và dịu êm hơn. Tiếng ghi-ta và niềm đam mê võ thuật đã giúp cho tâm hồn Nguyễn Tỵ luôn được bình yên, yêu người, yêu đời.