1/Qua trao đổi với ông Hoàng Hữu, Bí thư Đảng ủy, ông Đặng Võ Luyện, Chủ tịch Hội người cao tuổi xã chúng tôi được biết: Đình Hương Vĩ được xây dựng từ thời nhà Lê cuối thế kỷ XVII, thờ hai vị thánh Cao Sơn - Quý Minh Quốc công đại vương, đã có công giúp vua Hùng Vương thứ 18 đuổi giặc ngoại xâm.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, do địa bàn đình rộng, vị trí cạnh đường giao thông từ Yên Thế đi chừng 4 - 5 km là vượt Đèo Cà sang đất Hữu Lũng (Lạng Sơn), nên nơi đây là trạm của Quân y viện 49, có nhiệm vụ đón tiếp và cứu chữa các thương binh từ mặt trận các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang, Cao Bằng, Phú Thọ. Có 95 thương binh do vết thương quá nặng đã hy sinh tại nơi đây và được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ của xã. Trong chiến tranh biên giới năm 1978, đình cũng là nơi tạm trú của hàng chục gia đình từ Lạng Sơn sơ tán về. Đình nằm trên địa phận thôn Làng và chùa trên địa phận thôn Chùa nhưng chỉ cách nhau vài trăm mét. Năm 1994, đình, chùa Hương Vĩ được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.
2/Thôn Làng có 148 hộ, 484 nhân khẩu, trong thôn có hàng chục ngôi nhà cổ. Những ngôi nhà cổ nơi đây đều theo kiểu kẻ truyền, tiền kẻ hậu bẩy và nguyên liệu bằng gỗ lim xanh. Ngồi tiếp chuyện chúng tôi trong ngôi nhà cổ của mình, anh Dương Văn Bình, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Hương Vĩ cho biết: Năm 1994, đoàn cán bộ của Bộ Văn hóa, Thông tin đã về khảo sát, thẩm định để công nhận đình, chùa Hương vĩ là di tích lịch sử cấp quốc gia, đã đi thăm tất cả những ngôi nhà cổ của thôn. Căn cứ vào hoa văn, họa tiết trang trí của từng ngôi nhà, đoàn đã kết luận: những ngôi nhà này có tuổi đời từ 100 - 300 năm. Nhà và đồ thờ của gia đình anh có tuổi đời cao nhất: gần 300 năm, được thợ làm rất tinh xảo, kẻ truyền soi kỹ, nguyên liệu bằng gỗ lim xanh. Nhà được thiết kế theo kiểu lòng thuyền, trốn quá giang giữa để phù hợp với việc múa võ và tập võ.
Chuyện cũ còn ghi lại, đầu những năm 1860, giặc Cờ đen từ Trung Quốc kéo sang các tỉnh phía bắc nước ta, một đội quân đã đồn trú ở nhà này. Chúng đã dùng mã tấu đẽo 15/30 chiếc cột. Để bảo đảm mỹ thuật và góp phần chịu lực, trong quá trình sửa chữa một số cột chính, gia đình đã thuê thợ dùng keo trộn với mùn cưa vá vào, còn một số cột vẫn giữ nguyên dấu vết.
Căn cứ vào gia phả dòng họ thì đến anh Bình là đời thứ tám ở trong ngôi nhà này. Cha của anh, cụ Dương Văn Tăng đã mất mấy năm, trước khi qua đời cụ dặn dò cháu con: “Ngày trước, anh em đông, làm ba ngôi nhà như thế này để ở. Nhưng năm 1947, giặc Pháp đốt phá mất hai chiếc, nay còn một chiếc, các cháu, các con phải giữ lấy”.
3/Nhà cổ có đặc điểm thấp, hạn chế ánh sáng nhưng được lợp bằng ngói mũi, chất liệu gỗ nên mát về mùa hè và ấm mùa đông. Ngoài những ngôi nhà cổ ở Hương Vĩ, Yên Thế còn một số ngôi nhà khác có tuổi đời cũng xấp xỉ 100 năm. Đặc biệt là nhà của các con cháu cụ Hoàng Văn Ma, được xây từ năm 1933. Ngôi nhà có tổng chiều dài 21,83 m, rộng 9,03 m gồm bảy gian thông hai gian đầu hồi, kiến trúc thượng kèo hạ bẩy bằng gỗ lim xanh. Nay ngôi nhà trở thành nhà truyền thống của huyện Yên Thế, là nơi trưng bày các hiện vật thời tiền sử, thời kỳ phong kiến, thời khởi nghĩa chống Pháp và chống Mỹ của quân và dân các dân tộc huyện Yên Thế.
Mong rằng các cơ quan chức năng có kế hoạch khảo sát, lập hồ sơ, bảo tồn, xếp hạng di tích lịch sử văn hóa làng cổ, những ngôi nhà cổ, phục vụ cho việc giữ gìn truyền thống văn hóa, lịch sử địa phương, góp phần phục vụ cho công tác giáo dục và phát triểndu lịch.