ĐƯA NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV VÀO CUỘC SỐNG:

Đầu tư cho con người là đầu tư chiến lược

Trong cuộc đua công nghệ toàn cầu, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đang trở thành yêu cầu sống còn đối với nhiều quốc gia. 

Sinh viên Trường Công nghệ thông tin và Truyền thông, Đại học Bách khoa Hà Nội với dự án nghiên cứu của mình.
Sinh viên Trường Công nghệ thông tin và Truyền thông, Đại học Bách khoa Hà Nội với dự án nghiên cứu của mình.

Với Việt Nam, yêu cầu ấy càng trở nên cấp bách khi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ là động lực phát triển chủ yếu của nền kinh tế trong giai đoạn mới.

Khi sinh viên nhìn thấy “con đường tương lai”

Theo Nghị định 179/2026/NĐ-CP mới được ban hành, từ tháng 9/2026, sinh viên theo học các nhóm ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược sẽ được Nhà nước cấp học bổng từ 3,7 đến 5 triệu đồng/tháng. Học viên cao học và nghiên cứu sinh cũng được hỗ trợ ở mức cao hơn, có trường hợp lên tới 8,4 triệu đồng/tháng.

Chính sách cho thấy Nhà nước đang ưu tiên mạnh hơn cho các lĩnh vực sẽ quyết định năng lực cạnh tranh công nghệ của Việt Nam trong nhiều năm tới.

PGS, TS Nguyễn Phong Điền, Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, cho rằng nhiều năm qua, các ngành khoa học cơ bản và kỹ thuật công nghệ cao thường rơi vào tình trạng khó tuyển người giỏi vì áp lực học tập lớn nhưng thu nhập khởi điểm chưa thật sự hấp dẫn so với các ngành kinh tế, tài chính. “Có giai đoạn nhiều học sinh rất giỏi Toán, Lý không còn mặn mà với kỹ thuật hay nghiên cứu cơ bản mà chuyển sang những ngành được cho là dễ có thu nhập tốt hơn. Chính sách học bổng lần này không chỉ là hỗ trợ vật chất mà còn là tín hiệu cho thấy Nhà nước đang thay đổi cách tiếp cận: Coi đầu tư cho người giỏi là đầu tư cho tương lai quốc gia”, ông nói.

Theo ông, các lĩnh vực như vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, vật liệu mới hay công nghệ lượng tử đều cần nguồn nhân lực trình độ rất cao và phải được đào tạo bài bản trong thời gian dài. Nếu không có chính sách đủ mạnh để giữ chân người học giỏi ngay từ bậc đại học, Việt Nam sẽ rất khó cạnh tranh trong cuộc đua công nghệ.

Nguyễn Hoàng Anh, học sinh lớp 12 chuyên Toán, Trường THPT chuyên Đại học Sư phạm Hà Nội cho biết, chính sách học bổng mới khiến em tự tin hơn khi quyết định đăng ký ngành thiết kế vi mạch. “Trước đây, em khá phân vân vì ngành này học nặng, thời gian đào tạo dài, trong khi gia đình cũng không dư dả. Khi biết có học bổng hỗ trợ hàng tháng, em thấy có thêm động lực để theo đuổi”, Hoàng Anh nói.

Không chỉ ở bậc đại học, chính sách đầu tư cho nghiên cứu sinh xuất sắc cũng đang tạo ra nhiều kỳ vọng. Chương trình VREF do Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai giai đoạn 2026-2030 cho phép hỗ trợ tối đa tới 1 tỷ đồng mỗi năm cho một nghiên cứu sinh có đề tài xuất sắc. Đây là thay đổi lớn nếu so với trước đây, khi nhiều nghiên cứu sinh phải tự xoay xở kinh phí nghiên cứu hoặc làm thêm để trang trải cuộc sống.

Nguyễn Lê Thu Hà, nghiên cứu sinh ngành vật liệu mới tại Trường đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, nhiều nhà nghiên cứu trẻ không chỉ thiếu kinh phí mà còn thiếu cảm giác mình thật sự được trao cơ hội để theo đuổi nghiên cứu lâu dài. “Nhiều người giỏi chọn ra nước ngoài vì ở đó họ được tập trung toàn thời gian cho nghiên cứu, có điều kiện tiếp cận phòng thí nghiệm hiện đại và có cơ hội phát triển lâu dài. Nếu Việt Nam tạo được môi trường như vậy thì rất nhiều người sẽ muốn ở lại”, Hà chia sẻ.

Để người trẻ muốn đi vào khoa học

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, thời gian qua, Chính phủ đã liên tiếp ban hành các cơ chế thu hút, trọng dụng nhân tài khoa học công nghệ, từ nhân tài công nghệ số, kỹ sư trẻ tài năng đến chuyên gia chuyển đổi số và các tổng công trình sư công nghệ chiến lược.

Ông Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, cho rằng, điểm đáng chú ý nhất hiện nay là tư duy chính sách đã có sự thay đổi căn bản. “Nếu trước đây chúng ta chủ yếu quản lý nhân lực theo cơ chế hành chính thì nay tư duy đang chuyển sang cạnh tranh thu hút chất xám. Trong lĩnh vực công nghệ cao, người giỏi có thể làm việc ở bất cứ đâu trên thế giới. Nếu không có môi trường đủ hấp dẫn, chúng ta sẽ mất nhân lực ngay trên sân nhà”, ông Chiến nói.

Trong khi đó, GS, TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Giáo dục đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo) nhận định, bài toán nhân lực chất lượng cao không thể giải quyết bằng những chính sách ngắn hạn mà cần một chiến lược dài hơi từ giáo dục phổ thông đến đại học và sau đại học. Theo đó, việc ưu tiên học bổng cho các ngành khoa học cơ bản, công nghệ chiến lược là bước đi cần thiết nhằm điều chỉnh xu hướng lựa chọn ngành nghề của học sinh trong bối cảnh nhiều lĩnh vực cốt lõi đang thiếu nhân lực nghiêm trọng. Tuy nhiên, song song với hỗ trợ tài chính phải nâng chất lượng đào tạo, tăng kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp và viện nghiên cứu để sinh viên nhìn thấy rõ cơ hội nghề nghiệp.

Theo nhiều nhà giáo dục, chính sách học bổng và đãi ngộ chỉ là phần “đầu ra”. Muốn phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao, điều quan trọng hơn là tạo được niềm yêu thích khoa học tự nhiên ngay từ bậc phổ thông.

Cô Vũ Minh Uyên, giáo viên Vật lý Trường THCS Cầu Giấy, chia sẻ, nhiều học sinh hiện nay chưa thật sự hứng thú với các ngành khoa học cơ bản không phải vì thiếu năng lực mà vì chưa nhìn thấy cơ hội nghề nghiệp. “Trong nhiều năm, học sinh thường có tâm lý học kinh tế, tài chính hay truyền thông sẽ dễ thành công hơn. Trong khi đó, các môn Toán, Lý, Hóa bị xem là khó, áp lực, học nhiều nhưng chưa chắc có thu nhập tốt”, cô Uyên nói.

Theo cô, muốn thay đổi điều này, việc dạy học cũng phải thay đổi, giúp học sinh nhìn thấy khoa học gắn với đời sống và công nghệ hiện đại thay vì chỉ là những công thức khô khan trong sách giáo khoa.

Cô Nguyễn Thị Mai Lan, Khoa Kỹ thuật và Công nghệ, Trường đại học Sư phạm Hà Nội cho biết, điều học sinh cần không chỉ là các giờ học lý thuyết mà còn là trải nghiệm sáng tạo thực tế trong phòng thí nghiệm, các cuộc thi STEM hay dự án nghiên cứu nhỏ. “Một học sinh sẽ yêu khoa học hơn khi được tự tay làm thí nghiệm, chế tạo sản phẩm hay giải quyết một vấn đề thực tế bằng kiến thức mình học được. Nếu việc học chỉ xoay quanh luyện đề và điểm số, rất khó tạo ra đam mê nghiên cứu lâu dài”, cô Mai Lan nhận định.

Không chỉ thu hút mà phải giữ chân được người tài

Dù được đánh giá là bước đột phá, nhiều chuyên gia cho rằng, thách thức lớn nhất vẫn nằm ở khâu triển khai thực tế.

Thực tế nhiều năm qua cho thấy không ít chương trình đào tạo nhân tài từng rơi vào tình trạng “đầu tư xong rồi chảy máu chất xám”. Không ít sinh viên giỏi sau khi tốt nghiệp đã lựa chọn làm việc cho doanh nghiệp nước ngoài hoặc ra nước ngoài nghiên cứu vì môi trường trong nước chưa đủ hấp dẫn.

Anh Nguyễn Hoàng Dương, nghiên cứu sinh ngành Khoa học máy tính tại Trường đại học Aalto (Phần Lan) chia sẻ: “Người giỏi ngày nay không chỉ quan tâm thu nhập mà còn cần môi trường nghiên cứu tự do, cơ hội phát triển nghề nghiệp và khả năng được ghi nhận xứng đáng. Nếu cơ chế sử dụng nhân lực còn cứng nhắc thì rất khó thu hút nhân tài về Việt Nam cũng như giữ chân họ ở trong nước cống hiến”. Đây cũng là một trong những phản biện đáng chú ý đối với các chính sách ưu đãi hiện nay.

Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cho rằng, học bổng và đãi ngộ chỉ là điều kiện cần. Nhưng tiền hỗ trợ thôi chưa đủ. Nhiều nhà khoa học trẻ cho rằng, điều khiến họ chần chừ không nằm ở học bổng, mà ở môi trường nghiên cứu: Thủ tục tài chính còn rườm rà, cơ sở vật chất thiếu đồng bộ, cơ hội phát triển nghề nghiệp chưa thật sự rõ ràng. Hay nỗi lo ngại về nguy cơ chạy theo thành tích hoặc phân bổ nguồn lực dàn trải. Nếu chỉ dựa trên điểm đầu vào để cấp học bổng mà thiếu cơ chế đánh giá năng lực thực chất trong quá trình học, chính sách có thể chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng.

Tuy nhiên, ưu tiên đầu tư cho khoa học cơ bản và công nghệ chiến lược là lựa chọn cần thiết trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt. Trong cuộc cạnh tranh công nghệ hiện nay, không quốc gia nào có thể dàn trải nguồn lực. Muốn tạo lợi thế, buộc phải chọn đúng lĩnh vực mũi nhọn để đầu tư dài hạn.

Hiện nay, nhiều trường kỹ thuật đã bắt đầu thay đổi theo hướng gắn đào tạo với nghiên cứu và doanh nghiệp. Một số trường hợp tác với doanh nghiệp công nghệ để xây dựng phòng thí nghiệm bán dẫn, trung tâm AI, trung tâm dữ liệu lớn; đồng thời đưa sinh viên tham gia các dự án nghiên cứu từ sớm.

Thực tế cho thấy cuộc cạnh tranh nhân lực công nghệ cao hiện nay không còn diễn ra giữa các cá nhân mà giữa các quốc gia và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Theo GS, TS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội), điều quan trọng là phải tạo cho sinh viên cảm giác họ đang tham gia giải quyết những bài toán thật của đất nước. “Khi người học thấy công việc nghiên cứu của mình có ý nghĩa thực tiễn, họ sẽ có động lực ở lại và cống hiến”, ông Trình nói.