(Tiếp theo và hết)
Khi di sản không chỉ được nhìn nhận như ký ức của quá khứ mà còn trở thành nguồn lực cho phát triển, bài toán đặt ra không còn dừng ở câu chuyện khai thác thế nào cho hiệu quả, mà là quản trị ra sao để giá trị gốc không bị bào mòn trong quá trình sinh lợi. Di sản có thể tạo doanh thu, thu hút đầu tư, kích thích du lịch và dịch vụ; nhưng nếu thiếu tầm nhìn dài hạn và cơ chế kiểm soát khoa học, chính những lợi ích trước mắt ấy lại có thể làm tổn thương nền tảng tạo nên sức hấp dẫn của di sản.
Không thể “vắt kiệt” di sản cho lợi ích trước mắt
Những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của du lịch và kinh tế sáng tạo, nhiều di tích, danh thắng, lễ hội truyền thống trở thành điểm đến sôi động. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy những hệ lụy đáng lo ngại. Không ít di tích bị “trùng tu” theo hướng làm mới, sử dụng vật liệu hiện đại, can thiệp sâu vào cấu trúc nguyên gốc. Một số lễ hội bị thương mại hóa quá mức, nghiêng về biểu diễn, giải trí, xa rời giá trị cốt lõi của cộng đồng. Ở một số làng nghề, sản phẩm bị giản lược kỹ thuật và tinh thần truyền thống nhằm đáp ứng thị hiếu ngắn hạn, dẫn đến suy giảm bản sắc. Nhiều di sản đứng trước nguy cơ bị vượt quá giới hạn chịu tải. Mới đây, trong dịp Tết Bính Ngọ, tại Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình), trước tình trạng lượng khách tăng đột biến vào ngày mồng 4 Tết (20/2), Ban Quản lý Di sản Tràng An (tỉnh Ninh Bình) ra thông báo về việc tạm dừng nhận thêm khách tham quan mới để bảo đảm an toàn và chất lượng trải nghiệm. Khi lượng khách gia tăng quá ngưỡng, việc cơ quan quản lý siết chặt kiểm soát là cần thiết.
TS Trần Hữu Sơn từng chỉ ra rằng, làm kinh tế di sản bền vững không bao giờ là “vắt kiệt” di sản để đổi lấy lợi nhuận ngắn hạn. Điều cốt lõi là xác lập quan hệ hài hòa giữa bảo tồn và khai thác, coi bảo tồn là nền tảng, là điều kiện tiên quyết cho phát triển. Nếu bảo tồn bị xem nhẹ, mọi thành quả kinh tế đạt được chỉ mang tính nhất thời và phải trả giá bằng sự xuống cấp lâu dài.
TSKH, KTS Ngô Viết Nam Sơn, người có hơn 35 năm kinh nghiệm quốc tế về tư vấn thiết kế, quy hoạch kiến trúc cảnh báo một sai lầm chiến lược đang hiện hữu: Nhiều địa phương chỉ chú trọng bảo vệ từng công trình di tích đơn lẻ, mà thiếu giải pháp tổng thể cho khu trung tâm lịch sử và vùng cảnh quan chung quanh. Khi các công trình cao tầng, hạ tầng giao thông hoặc dự án thương mại mọc lên thiếu kiểm soát, di sản bị xâm phạm gián tiếp, làm suy giảm giá trị không gian và tính toàn vẹn, trong khi đây là yếu tố then chốt được quốc tế coi trọng trong công tác bảo tồn.
Yêu cầu mới trong quản trị di sản
Thực tiễn đặt ra đòi hỏi chuyển từ tư duy ứng phó khi sự cố xảy ra sang tư duy phòng ngừa chủ động. Thay vì chờ đến khi di sản quá tải mới siết chặt hoặc “đóng cửa” đột ngột, các địa phương cần xây dựng hệ thống dữ liệu khoa học về sức chứa của từng di tích, từng khu di sản; thường xuyên đánh giá tác động môi trường, xã hội; thiết lập cơ chế cảnh báo sớm. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong kiểm soát lượng khách, đặt chỗ trực tuyến, phân luồng tham quan theo khung giờ, số hóa hồ sơ di tích… giúp nâng cao trải nghiệm, và trở thành công cụ quản trị hiệu quả. Nhiều quốc gia đã chứng minh rằng, minh bạch dữ liệu và quản lý theo bằng chứng khoa học giúp giảm xung đột giữa bảo tồn và khai thác, đồng thời tạo sự đồng thuận trong cộng đồng.
Định hướng lớn cho công tác quản trị đã được xác lập rõ trong hệ thống chính sách của Đảng, Nhà nước. Luật Di sản văn hóa 2024 khẳng định nguyên tắc quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cộng đồng và cá nhân; đồng thời yêu cầu lồng ghép bảo vệ di sản vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới tiếp tục nhấn mạnh lấy di sản văn hóa là trung tâm, coi tài nguyên văn hóa số là thế mạnh, đầu tư bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di sản gắn với mục tiêu phát triển bền vững và sinh kế cộng đồng, hình thành một số đô thị di sản, phát triển kinh tế di sản như một cấu phần của hệ sinh thái văn hóa. Tinh thần xuyên suốt của các văn bản đó là không tách rời bảo tồn với phát triển, không hy sinh văn hóa vì tăng trưởng đơn thuần. Di sản được nhìn nhận như nguồn lực chiến lược cho tương lai, nhưng là nguồn lực đặc biệt, không thể tái tạo nếu bị hủy hoại.
Trên cơ sở đó, yêu cầu đặt ra cho quản trị di sản trong giai đoạn mới là xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả kép: Vừa đo lường đóng góp kinh tế, vừa lượng hóa mức độ bảo tồn, sự tham gia và hài lòng của cộng đồng, tác động môi trường và giá trị văn hóa được duy trì. Không thể chỉ nhìn vào số lượt khách hay doanh thu. Song song, cần hoàn thiện cơ chế phân bổ nguồn thu theo hướng tái đầu tư cho bảo tồn và nâng cao đời sống cộng đồng tại chỗ.
Kinh tế di sản là lĩnh vực giao thoa giữa kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường. Rủi ro không chỉ nằm ở sự xuống cấp vật chất của di tích hay biến dạng của lễ hội, mà còn ở sự suy giảm niềm tin xã hội và thương hiệu quốc gia được xây dựng từ chính di sản ấy. Một khi cấu trúc nguyên gốc bị phá vỡ hoặc giá trị tinh thần bị mai một, di sản không thể “tái sản xuất” như một sản phẩm thị trường thông thường. Chính vì vậy, quản trị di sản không phải lựa chọn, mà là yêu cầu tất yếu.
Cần sự vào cuộc đồng bộ
PGS, TS Lê Thị Thu Hiền, Cục trưởng Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) nhấn mạnh bảo tồn và phát triển không phải hai mặt đối lập, mà là hai yếu tố cộng sinh vì mục tiêu bền vững. Theo đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa đang được hoàn thiện theo hướng tháo gỡ “điểm nghẽn”, bảo đảm đồng bộ với pháp luật về đầu tư, xây dựng. Các quy định mới làm rõ thẩm quyền, trình tự, thủ tục cho ý kiến đối với dự án triển khai trong, ngoài khu vực bảo vệ di tích và vùng đệm di sản thế giới. Đặc biệt, trên cơ sở khuyến nghị của UNESCO và ICOMOS, cơ chế đánh giá tác động di sản đã được nội luật hóa. Quy định về đánh giá tác động đối với di sản thế giới trong Luật và các nghị định hướng dẫn yêu cầu mọi dự án đầu tư, khai thác tài nguyên trong khu vực di sản, vùng đệm phải tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu bảo vệ môi trường và kiểm soát yếu tố tác động theo chuẩn mực quốc tế. Đây là bước tiến quan trọng, đưa quản trị di sản của Việt Nam tiệm cận thông lệ toàn cầu. Cùng với hoàn thiện thể chế, chất lượng thẩm định quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích được nâng cao; hoạt động kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật được tăng cường, kịp thời phát hiện và xử lý hành vi xâm phạm di tích.
Ngày 25/3/2025, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Công văn số 1218/BVHTTDL-DSVH yêu cầu tăng cường quản lý di tích và hoạt động bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh. Văn bản đề nghị các địa phương nâng cao vai trò, trách nhiệm của cơ quan quản lý và cộng đồng; kiểm soát chặt chẽ quy trình kiểm kê, xếp hạng; thực hiện nghiêm quy định pháp luật về đầu tư, xây dựng khi triển khai dự án tu bổ, bất kể nguồn vốn nào. Những động thái này cho thấy quyết tâm siết chặt kỷ cương, đưa công tác quản trị di sản vào nền nếp.
Quản trị di sản, xét đến cùng, là quản trị mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng. Nếu thiếu cơ chế minh bạch và phân bổ công bằng, xung đột sẽ nảy sinh, làm suy yếu nền tảng xã hội của bảo tồn. Ngược lại, khi cộng đồng được tham gia vào quá trình ra quyết định, được hưởng lợi từ du lịch, dịch vụ gắn với di sản, họ sẽ trở thành “người bảo vệ” hiệu quả nhất. Trong hành trình hướng tới phát triển bền vững, di sản không chỉ là tài sản của quá khứ mà còn là vốn quý cho tương lai. Nhưng vốn quý ấy chỉ thật sự sinh lợi lâu dài khi được quản trị bằng trách nhiệm, tri thức và sự tôn trọng đối với giá trị nguyên gốc. Đó cũng là thước đo bản lĩnh văn hóa của một quốc gia đang phát triển trong hội nhập sâu rộng.