40 năm đổi mới: Điện ảnh Việt có gì?

40 năm nhìn lại để nhắc rằng, điện ảnh không chỉ là công nghiệp mà còn là nghệ thuật. Và nếu không có những tiến triển trong nghệ thuật ấy thì càng ngày điện ảnh sẽ càng khô cứng và thiếu đi chiều sâu nhân văn cũng như sự sáng tạo.

Bộ phim “Mưa trên cánh bướm” (2024) của đạo diễn Dương Diệu Linh từng sở hữu 2 giải thưởng lớn: Phim hay nhất và Phim sáng tạo nhất tại Tuần lễ Phê bình phim Quốc tế, thuộc khuôn khổ Liên hoan Phim Venice năm 2024.
Bộ phim “Mưa trên cánh bướm” (2024) của đạo diễn Dương Diệu Linh từng sở hữu 2 giải thưởng lớn: Phim hay nhất và Phim sáng tạo nhất tại Tuần lễ Phê bình phim Quốc tế, thuộc khuôn khổ Liên hoan Phim Venice năm 2024.

17 bộ phim tiêu biểu của Việt Nam ra đời trong giai đoạn 40 năm đổi mới sẽ được trình chiếu tới công chúng khán giả tại Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng diễn ra từ 28/6 đến 4/7. Đây là dịp để công chúng xem lại những tác phẩm chất lượng, những giá trị nghệ thuật đã được khẳng định, cùng nhìn lại hành trình phát triển của điện ảnh Việt Nam từ nhiều góc độ: Tư duy sáng tạo, ngôn ngữ điện ảnh, cách tiếp cận hiện thực cũng như những thay đổi trong phong cách làm phim qua từng giai đoạn.

Điện ảnh không chỉ là giải trí

Để trả lời câu hỏi “Điện ảnh Việt có gì trong 40 năm đổi mới?”, cần những cuộc hội thảo, bàn luận chuyên sâu dài dài. 40 năm đổi mới là một thời kỳ chuyển mình mạnh mẽ của xã hội Việt Nam. Theo đó, điện ảnh trong nước có cơ hội “nắm bắt” những câu chuyện, đề tài phát sinh trong bối cảnh mới. Nếu như trước đây, điện ảnh Việt thường bị “gán mác” là điện ảnh chiến tranh, với những tác phẩm khắc họa tinh thần quật cường cũng như những mất mát, bi thương của con người trong thời chiến thì khi bước vào thời mở cửa, có những điều khán giả chưa được chứng kiến trên màn ảnh trước đó về số phận, tâm tư, khát vọng, góc khuất của con người Việt Nam đã được phơi bày. Thậm chí có những đề tài gai góc, đi vào những khía cạnh nhỏ bé nhưng lại có sức lạy động người xem.

Dấu ấn của điện ảnh đổi mới được thể hiện ở đa dạng thể loại: Phim độc lập, phim tình cảm, phim hành động… trong đó có nhiều tác phẩm do Nhà nước đặt hàng sau năm 1986 trở lại đây. PGS, TS Phạm Xuân Thạch, Chủ tịch Hội đồng biên tập tạp chí Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: 40 năm ấy, khi nhìn lại, chúng ta sẽ thấy rằng, điện ảnh là nghệ thuật, không chỉ là ngành giải trí, không chỉ là ngành kinh doanh. Nghệ thuật phải được tiến triển bằng những sáng tạo trong ngôn ngữ kể chuyện, trong sự suy tư, chất vấn các vấn đề xã hội đến sự trăn trở các câu chuyện con người. “Cách đây mấy tháng tôi có xem lại bộ phim “Vùng trời” (sản xuất năm 1975, đạo diễn, NSND Huy Thành) mới thấy rằng: Điện ảnh Việt Nam không chỉ là câu chuyện thực hiện nhiệm vụ chính trị mà còn là góc nhìn ghi lại cuộc đời con người. Xem lại “Vùng trời” bạn sẽ thấy người Việt thời ấy ăn Tết như thế nào, người vợ đi thăm chồng như thế nào, nuôi dưỡng và dạy dỗ những đứa trẻ nên người ra sao… Điện ảnh không chỉ là câu chuyện nhiệm vụ chính trị mà còn ghi lại tất cả ký ức”, PGS, TS Phạm Xuân Thạch nói.

122.jpg
"Tướng về hưu" là bộ phim điện ảnh tâm lý xã hội, một trong 17 tác phẩm tiêu biểu được trình chiếu tại Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng 2026.

“Ươm mầm” cho phim độc lập

Nhiều thế hệ điện ảnh Việt Nam đã được ghi nhận tại các liên hoan phim quốc tế. Trong 40 năm, liên tục có một nền điện ảnh đồng hành cùng xã hội, cùng với nền văn hóa. Một câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào để có sự tiếp nối thế hệ làm phim, có thể để lại dấu ấn nghệ thuật? Câu trả lời không chỉ thuộc về những đạo diễn phim độc lập!

Cần phải khẳng định rằng, chúng ta có một dòng phim độc lập được tiếp nối, từ thế hệ đạo diễn Đặng Nhật Minh cho đến Bùi Thạc Chuyên và sau này là những đạo diễn trẻ như Nguyễn Hoàng Điệp, Phạm Ngọc Lân, Phạm Thiên Ân, Dương Diệu Linh… Xem phim của thế hệ trước chúng ta sẽ thấy sự hoài cổ, một sự nuối tiếc những cái đã qua trên một hệ giá trị đã cũ. Còn điện ảnh đương đại sống với những điều đang hiện hữu, trăn trở với những gì đang có.

Nhưng câu chuyện đường dài cũng đặt ra cho điện ảnh Việt Nam, với các nhà quản lý và chính những người theo đuổi dòng phim độc lập, là bài toán tìm quỹ đầu tư, tham dự các liên hoan phim quốc tế rồi mới có thể “tìm đường” về nước. Không những cần có những quỹ độc lập để hỗ trợ các nhà làm phim có điều kiện hoàn thiện kịch bản, quay phim, đem phim ra nước ngoài mà có lẽ, trong những kỳ liên hoan phim cũng cần tổ chức các khóa học, hội chợ dự án, workshop về làm phim trẻ…

Thực tế cũng đặt ra một yêu cầu: Phải chăng liên hoan phim trong nước cũng nên là dịp để các nhà quản lý, người làm phim tính đến cách phát triển hài hòa cho điện ảnh Việt Nam, có thể mở rộng đề tài của các phim đặt hàng, không chỉ là những phim phục vụ nhiệm vụ chính trị mà có thể mở ra những đề tài mang tính chất đời sống hơn, đi vào số phận con người nhiều hơn. Đồng tình với quan điểm này, TS Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam, đồng Trưởng Ban Tổ chức DANAFF 4, Giám đốc Liên hoan phim cho rằng: “Không phải chỉ có phim giải trí thì mới ăn khách, mà những bộ phim tâm lý, có giá trị xã hội cũng có thể đến với các tầng lớp khán giả. Nhưng có điều, chúng ta phải làm sao để khán giả có sự liên tục trong việc thưởng thức các dòng phim. Còn nếu chúng ta không có những hoạt động như liên hoan phim, không tôn vinh các di sản điện ảnh hoặc nhìn lại một chặng đường điện ảnh thì tôi nghĩ rằng khán giả sẽ bị đứt đoạn với quá khứ và các nhà làm phim sẽ mải chạy theo xu thế làm phim thời thượng, thu hút nhiều khách nhưng có lẽ không phải bộ phim nào cũng để lại giá trị”.

Và đương nhiên, một nền điện ảnh với những đề tài kinh dị chiếm lĩnh phòng vé trong những năm gần đây, khán giả đã có biểu hiện bội thực và nhàm chán những món ăn “rượu mới bình cũ” thì liệu rằng, có phải là lời cảnh báo khi chúng ta đang bị lặp lại một xu thế ra phim theo trào lưu, giống như những bộ phim mì ăn liền cuối thập niên 1990.