Sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong tổ chức cách mạng của công nhân trong các nhà máy, khu mỏ, đồn điền tại các trung tâm công nghiệp của đất nước.
Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân khu mỏ
So một số khu mỏ than khác ở vùng mỏ Quảng Ninh, mỏ than Mạo Khê được khai thác sớm nhất. Tài liệu lưu trữ cho thấy than tại Mạo Khê được khai thác từ năm 1840. Sau khi Pháp chiếm khu mỏ cuối những năm 80 của thế kỷ 19, chỉ trong một thời gian ngắn đầu thế kỷ 20, hàng loạt công ty khai thác mỏ của thực dân ra đời, như Công ty than Bắc Kỳ (25/10/1920), Công ty than Hạ Long (1924), Công ty mỏ than Đông Triều, Công ty than đá Yên Lập (1924)… Các khu mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả, Đông Triều, Uông Bí, Mạo Khê… trở thành nơi có đội ngũ công nhân mỏ đông đảo, sớm tập trung của vùng đông bắc.
Quá trình khai thác than của thương nhân nước ngoài và tư bản Pháp đưa Mạo Khê trở thành một trong những nơi sản sinh ra giai cấp công nhân Việt Nam. Cuốn "Địa chí Quảng Ninh" của Hội Khoa học lịch sử Quảng Ninh có đoạn ghi: “Công nhân mỏ Mạo Khê phần lớn ở tập trung trong các xóm thợ, Vườn Thông, Chợ Con, Cống Trắng, chung quanh phố và ở ngay tại các cửa lò, trong các lán thợ, trại của cai ký, ngay cạnh những công trường khai thác, mỗi lán có chừng 50-100 người… Hình thành ở vùng nông thôn bán sơn địa, chế độ khai thác kiểu thầu khoán, bởi vậy mỏ Mạo Khê nhiều công nhân “áo nâu”, sống ít tập trung, biến động theo thời vụ. Họ bị bọn địa chủ phong kiến, đế quốc bóc lột trực tiếp nặng nề hơn và có mối liên minh với nông dân chặt chẽ hơn so công nhân ở một số nơi khác”.
“Trong hầu hết các đường lò, nhất là lò cái, đầy lò bùn ngập đến cổ chân, trần lò nước thường xuyên rỉ ra rơi lõng bõng… Một số lò bằng khai thác kiểu “giàn mướp”, công việc đội đất đá khi đào phỗng, hoặc đội, cõng than từ gương lò ra, vận chuyển đất đá đều do phụ nữ và trẻ em. Thời gian lao động là 12 giờ một ngày, kéo dài từ 6 giờ sáng đến tối. Quần quật suốt ngày từ cửa lò đến lòng đất, đội lên xuống hàng trăm lần với những thúng than, nặng oặt cổ. Có những tảng đá to, đội không được, phải cõng như cõng bao gạo, có lần vì nặng quá, tôi bị ngã lăn chiêng từ trên xuống xây xát mình mẩy và kéo theo cả người khác. Hầu hết công nhân đội than là đàn bà và trẻ em... Mùa rét trên mặt đất là giá lạnh, nhưng dưới lò không khí ngột ngạt, mồ hôi nhễ nhại...”, trích tư liệu “Vô sản hóa” của đồng chí Vũ Thị Mai, cán bộ cách mạng thời kỳ đầu ở Quảng Ninh, ghi lại.
Đồng lương ít ỏi, cuộc sống đói rách lầm than lại lao động trong điều kiện khó khăn phức tạp, luôn luôn đe dọa tính mạng, sống trong cảnh nước mất, nhà tan, công nhân mỏ Mạo Khê cũng như nhân dân cả nước đã vùng dậy chống lại sự áp bức bóc lột của đế quốc thực dân, phong kiến mà trực tiếp là chủ mỏ, cai thầu. Buổi ban đầu, công nhân phản ứng bằng cách kêu ca, chửi bóng gió, bỏ việc, bỏ chủ thầu này sang làm cho chủ khác, đánh cai ký, giám thị, phá máy móc, dụng cụ; chống đánh đập, đòi tăng lương... Dần dà, Mạo Khê trở thành trọng điểm chú ý của những chiến sĩ cộng sản cách mạng lớp đầu tiên. Cùng với việc phát triển cơ sở cách mạng trong công nhân, những người tham gia phong trào vô sản hóa đã tổ chức và lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh của công nhân.
Một số phong trào công nhân diễn ra trước Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam như công nhân Cửa Ông đình công đòi bọn chủ cứu chữa cho chị Kiến bị sảy thai trong khi làm việc (năm 1903); thợ mỏ Hà Tu đình công chống bọn chủ cắt xén tiền lương (1906); công nhân mỏ Đèo Nai đấu tranh phản đối chủ bớt xén tiền lương, gạo của thợ và bán thực phẩm giá đắt (1914)… Năm 1925, công nhân mỏ Mạo Khê bãi công đòi tăng lương thắng lợi. Giai đoạn 1925-1926, công nhân, nhân dân khu mỏ Hòn Gai tham gia bãi công, bãi khóa, bãi thị đòi thực dân Pháp thả cụ Phan Bội Châu và truy điệu cụ Phan Chu Trinh. Sách “Giai cấp công nhân Việt Nam và liên minh công nông” của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn có đoạn viết: “Những cuộc đấu tranh của công nhân mặc dù chỉ đòi những yêu sách về kinh tế đều thường biến thành những cuộc đấu tranh có tính chất chính trị. Vì chế độ thuộc địa luôn chống lại một cách tàn nhẫn bất cứ một sự cải cách nào”.
Sự chuyển biến của phong trào cách mạng
Cuộc đấu tranh của công nhân mỏ Mạo Khê đánh dấu sự chuyển biến mới của phong trào cách mạng ở khu mỏ nói chung và Mạo Khê nói riêng. Giữa lúc phong trào đấu tranh của công nhân Mạo Khê có bước chuyển biến mới, khoảng tháng 8/1926, anh thanh niên giàu lòng yêu nước Hạ Bá Cang (tức Hoàng Quốc Việt) từ Trường Bách nghệ Hải Phòng đến Mạo Khê và xin vào làm thợ nguội ở nhà máy cơ khí, vừa bí mật tuyên truyền cách mạng vô sản.
Ngày 27/7/1929, Hội nghị đại biểu Công hội Đỏ Bắc Kỳ diễn ra tại số nhà 15 phố Hàng Nón, Hà Nội. Hội nghị quyết định thành lập Công hội Đỏ Bắc Kỳ - Tổ chức Công đoàn cách mạng đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam - tiền thân của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ngày nay. Sau khi thành lập Công hội Đỏ Bắc Kỳ, nhiều cán bộ đã được cử về vô sản hóa ở mỏ than Mạo Khê.
Khoảng năm 1928-1929, với bí danh là Phùng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã đến mỏ Vàng Danh, cùng làm việc nặng nhọc với người công nhân trong hầm mỏ. Sau một thời gian, qua quá trình vận động, tuyên truyền, giáo dục và thử thách, Nguyễn Văn Cừ đã lựa chọn được một số công nhân mỏ hăng hái, nhiệt tình để thành lập được một chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và một số công nhân tích cực tham gia Công hội.
Ông Phạm Thanh Trường, nguyên Phó Bí thư thường trực Đảng ủy, nguyên Chủ tịch HĐND phường Mạo Khê, Quảng Ninh cho biết: “Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên tại vùng mỏ được thành lập là biểu tượng tiêu biểu cho sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự hy sinh vì lý tưởng cách mạng cao cả của Đảng. Ngay từ khi ra đời, chi bộ đã lãnh đạo nhiều phong trào đấu tranh của công vùng mỏ và quần chúng nhân dân góp phần quan trọng vào việc thành lập chiến khu cách mạng”.
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng, đánh dấu thời kỳ giai cấp vô sản đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã tạo điều kiện thúc đẩy phong trào đấu tranh của công nhân vùng mỏ. Ngày 23/2/1930, chi bộ đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam ở khu mỏ Mạo Khê, Quảng Ninh được thành lập. Nơi thành lập chi bộ là một căn nhà đơn sơ cạnh xóm thợ (nay là phố Dân Chủ, phường Mạo Khê), với sự chứng kiến của đồng chí Nguyễn Đức Cảnh. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã tổ chức lễ kết nạp đảng viên và tuyên bố thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của vùng mỏ. Chi bộ gồm có 5 đồng chí: Đặng Châu Tuệ, Vũ Thị Mai, Bùi Đức Giao, Nguyễn Huy Sán, Bùi Văn Mạo, do đồng chí Đặng Châu Tuệ làm Bí thư.
Đồng chí Vũ Thị Mai là người vận động công nhân trong hầm lò gây cảm tình, tuyên truyền đường lối cứu nước, cứu nhà của Đảng. Đồng chí Đặng Châu Tuệ và Vũ Thị Mai có đóng góp quan trọng, cùng với chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng ở Mạo Khê phát hành báo “Than”, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng ở Mạo Khê phát triển nhanh từ tự phát sang tự giác. Đồng chí Bùi Văn Mạo là công nhân lái tàu, đã lái chiếc đầu tàu có cắm cờ đỏ búa liềm trong dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga…
Trong Hội nghị thành lập, chi bộ đã thảo luận và quyết định một số nhiệm vụ trước mắt như đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động quần chúng, gây cơ sở ở nơi yết hầu của địch, phát động phong trào đấu tranh để mở rộng ảnh hưởng của Đảng. Mặc dù trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, hội nghị thành lập chi bộ Đảng ở Mạo Khê được tổ chức đúng thủ tục và nguyên tắc của Đảng. Việc thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ở mỏ Mạo Khê đã mở ra một bước ngoặt quan trọng cho phong trào công nhân mỏ - bước sang giai đoạn đấu tranh có tổ chức, có kỷ luật.
Từ cuối tháng 2 đến tháng 4/1930, các chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ở Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông, Uông Bí, Vàng Danh cũng lần lượt ra đời. Lần đầu trong lịch sử, dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Đảng, phong trào đấu tranh của công nhân mỏ bước vào thời kỳ mới, sôi nổi, rộng khắp với nhiều hình thức phong phú, bắt nhịp với phong trào đấu tranh cách mạng sâu rộng trong cả nước.