Những nỗi buồn… trớ trêu
Cho đến giờ, gần như không có lý do gì để “ngụy biện” cho sự tồn tại của những cây xà cừ trên vỉa hè. Hầu như mùa mưa bão nào xà cừ cũng đổ, nhiều vụ chết người, bẹp xe xảy ra. Nhiều nhà khoa học phân tích những bất cập của cây xà cừ khi trồng trên phố như tán quá rộng, bộ rễ chùm lại bị băm chặt bởi không biết bao nhiêu cuộc đào bới. Chuyên gia sinh học Nguyễn Lân Hùng còn cho rằng, ngoại trừ cây ở công viên, Hà Nội cần thay thế hết cây xà cừ trên vỉa hè các tuyến phố bằng loại cây đô thị khác. Dù biết thế, nhưng khi nghe tin hàng xà cừ bị chặt bỏ, thay thế, dù đôi khi vào mục đích rất chính đáng như phục vụ cho các dự án giao thông, dù ở Hà Nội hay TP Hồ Chí Minh, cư dân đều xôn xao nỗi buồn, nỗi tiếc nhớ. Thậm chí, cả những lời chỉ trích gay gắt về thái độ không coi trọng mầu xanh đô thị.
Đây không phải câu chuyện trớ trêu duy nhất về cây xanh đô thị. “Hoa sữa vẫn ngọt ngào đầu phố đêm đêm” trong bài hát của nhạc sĩ Hồng Đăng từng khiến bao người nao lòng khi nhớ về Hà Nội. Tuy nhiên, những gia đình có cây hoa sữa gần nhà thì thật sự không cảm thấy “ngọt ngào” chút nào. Đúng hơn là khốn đốn mỗi khi đông về bởi mùi thơm nồng nặc đến phát ốm. Thậm chí, Lương y Vũ Đức Trung còn đăng đàn cho biết cây hoa sữa có hại cho sức khỏe, nhất là người già, trẻ em, người có bệnh về đường hô hấp. Nhưng khi cây hoa sữa được chặt để thay thế bằng loại cây khác, tranh cãi lập tức bùng nổ gay gắt. Không khó để nhận ra trong cuộc tranh cãi này, hình thành khá rõ hai “phe”: Một bên nặng về tình cảm, với những kỷ niệm vui buồn, và bên kia nghiêng về khoa học, với những luận điểm lô-gic. Và dường như, bên nào cũng... có lý. Luôn có khoảng cách rất lớn giữa cảm tính và lý tính, giữa tình cảm của con người với khoa học, hay mâu thuẫn trong chính giới khoa học về việc ứng xử với cây xanh đô thị.
Tạo nét văn hóa đặc trưng bằng cây bản địa
Và bây giờ, câu chuyện tranh cãi vẫn tiếp tục. “Đối tượng” lần này là cây hoa phượng vĩ, khi Hà Nội trồng một loạt cây hoa phượng ở dải phân cách các phố Xã Đàn, Đại Cồ Việt, Láng Hạ, Trần Khát Chân. Người khen - kẻ chê, khoảng cách giữa các ý kiến là rất lớn. Hoa phượng vĩ cũng là một trường hợp khá thú vị. Người Đà Nẵng từ lâu đưa phượng vĩ vào diện loài cây cần hạn chế trồng. Ngược lại, cũng thành phố cảng, thật khó để thuyết phục người Hải Phòng từ bỏ cây hoa phượng, dẫu rằng rất nhiều nhà khoa học không đồng tình với việc đại trà hóa loại cây này. Người Hải Phòng đang tiếp tục “nhuộm đỏ” các con phố bằng mầu hoa phượng.
Khi những tranh cãi nổ ra, người ta mới nhận ra, dù đã mấy chục năm sống trong thanh bình, có đủ thời gian để cho những nghiên cứu, thử nghiệm, nhưng chúng ta vẫn bối rối trong quy hoạch, trong ứng xử với cây xanh đô thị. Với trường hợp cây phượng vĩ ở Hà Nội, mọi tranh luận hẳn sẽ rẽ sang hướng khác, nếu cùng với việc ban hành Quy hoạch hệ thống cây xanh, công viên, vườn hoa và hồ thành phố Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, thành phố công bố rộng rãi với công chúng danh mục những loài cây đô thị nào được trồng, cây nào hạn chế, cấm trồng và cơ sở khoa học của danh mục này.
Khi trao đổi với chúng tôi về vấn đề các đô thị Việt Nam nên trồng cây gì, chuyên gia Phạm Văn Thế, Phòng Tài nguyên thực vật (Viện Sinh thái và Tài nguyên thực vật) đặt ra vấn đề mà ngày nay gần như chúng ta đã lãng quên: Tại sao không chú ý đến những loài cây đặc hữu, bản địa song song với việc bảo đảm những yếu tố về chuẩn cây đô thị? Tạo nên nét văn hóa đặc trưng cho những thành phố của Việt Nam chính bằng những loài cây đặc hữu bản địa của Việt Nam. Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật vô cùng phong phú, không nên lãng phí tài nguyên này. Một số loài cây đã được cha ông thuần hóa qua thời gian dài nên được lựa chọn làm cây đô thị như bằng lăng, cọ, móng bò, lim, lộc vừng, muồng đen, muồng, bò cạp... Gợi ý này đáng để suy nghĩ. Hẳn những cây bản địa sẽ góp phần tạo nên nét đặc trưng đô thị Việt Nam rõ nét hơn so với những loài cây di thực hay nhập khẩu, ví như cây phượng vĩ - loài cây đặc hữu của Madagasca, được trồng phổ biến ở hơn 100 nước trên thế giới.
Những hàng cây được trồng hôm nay rồi cũng sẽ hóa tâm hồn, dù đôi khi sự tồn tại của nó là phi khoa học. Cuộc sống luôn là thế. Cái hay cái dở của một hàng cây không đến ngày một, ngày hai, mà sẽ bộc lộ, có khi, sau hàng chục năm nữa. Nếu dở, xử lý hậu quả khi đó khó hơn rất nhiều so với dành công sức tìm sự hợp lý ngay từ khi khởi sự. Cảm tính thường nghiêng về cái đẹp. Khoa học hướng tới sự phù hợp. Cái cần của nhà quản lý là sự dung hòa giữa cảm tính và lý tính trong ứng xử với cây xanh đô thị, tìm được điểm chung giữa tiếng nói của cộng đồng, và tiếng nói của các nhà khoa học. Bởi bài học về những “hàng cây tâm hồn” đi vào thi ca nhưng hằng ngày vẫn gây rắc rối cho cuộc sống người dân như xà cừ, hoa sữa, bàng (rất nhiều sâu róm)... vẫn còn nguyên trước mắt.