Tuổi thơ tơ tằm

“Nuôi lợn ăn cơm nằm

Nuôi tằm ăn cơm đứng”

Tuổi thơ tơ tằm

Đó là câu nói đầu miệng của bà nội tôi những ngày tằm vào đợt ăn rỗi. Ăn rỗi là giai đoạn tằm trưởng thành và ăn rất nhiều. Những ngày đó, bữa cơm của bà chỉ ăn cho qua cơn đói bởi đầu óc, tay chân đã để hết ở phía nong tằm. Nhưng có lẽ với nghề nuôi tằm thì ngày nào với nội cũng là ngày tằm ăn rỗi.

Quê nội tôi, làng Gùi của huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, nằm bên bờ sông Hồng nơi phù sa quanh năm bồi đắp. Vào những năm trước thập niên 90, quê tôi có truyền thống nuôi tằm kéo tơ, vì vậy nên “màu” ở quê tôi chủ yếu là cây dâu. Những cánh đồng dâu được phù sa nuôi dưỡng luôn xanh ngút ngàn, những phiến lá to như bàn tay xòe ra mơn mởn. 

Ngày ấy ở quê tôi người ta thường làm nhà năm gian lợp mái rạ. Ba gian giữa dùng làm phòng khách nơi ăn ngủ của cả đại gia đình, còn hai gian đầu hồi dùng để trữ lương thực hoặc nuôi tằm. Tôi không thích hai gian đầu hồi, vì mỗi lần ra vào phải để ý đến việc đóng mở cửa sao cho tằm không bị trúng gió. Những con tằm lổm ngổm, trắng hếu, bò ngang dọc, sờ vào nhun nhũn luôn khiến tôi nổi da gà. 

Ông bà nội có đông con. Các chú được phân công chăm ruộng dâu, dọn phân tằm, tận dụng nguồn phân bón để làm vườn. Các cô được phân công hái dâu, cho tằm ăn và kéo tơ. Hồi ấy, tôi rất thích phụ các cô đi hái lá. Những chiếc lá dâu ram ráp, xanh rù rì là chỗ để lũ trẻ chúng tôi tha hồ chơi trốn tìm. Chơi chán, chúng tôi rủ nhau hái quả, những quả dâu chỉ to bằng đầu ngón tay út, tím sẫm, chua chua ngòn ngọt, thơm phức. Dâu là loại cây ít nhiễm bệnh không phải xử lý thuốc nên trẻ con tha hồ vặt ăn.

Kéo tơ là công việc thích nhất trong công đoạn nuôi tằm tơ, nhưng nó đòi hỏi sự khéo léo của đôi bàn tay nên thường được các cô nhận làm. Những con kén được đun trong nồi nước nóng vừa đến độ sôi, tơ sẽ tơi ra, các cô sẽ kéo sợi vào khung quay đều tay. Để tơ không bị đứt đoạn, nước phải luôn giữ ở nhiệt độ không đổi, và thường xuyên thêm kén.

Những ngày kéo tơ, tôi luôn quẩn quanh bên khung cửi, những động tác đều đều như thôi miên người xem, những sợi tơ mỏng tang mà lại có vẻ rất bền. Nhưng cái tôi thích nhất không phải là nhìn khung cửi quay mà là được ăn những con nhộng. Những con nhộng vừa được kén nhả ra còn béo mẫm, lớp vỏ mỏng tang mà dai dai, ruột nhộng mềm mềm như đậu phụ nhưng bùi bùi như thịt mỡ. Không cần phải mắm muối gì, chỉ cần đưa vào miệng cũng đủ thơm ngon. Nội hay đùa rằng, đây là phần lãi của người nuôi tằm.

Bà nội tôi, người phụ nữ không đọc hết nổi bảng chữ cái, cả đời chỉ quen cầm cuốc liềm, nhưng lại biết nấu những món ăn ngon sánh ngang những nhà hàng vài sao bây giờ. Những ngày kéo tơ, bữa cơm của bà luôn đậm chất đạm và rộn tiếng cười. Bà chỉ thêm ít tóp mỡ, phi hành thật thơm rồi trút đĩa nhộng còn nóng hổi vừa vớt ra khỏi nồi kéo tơ, thêm vài lá chanh thái sợi, một chút nước mắm xào cho nhộng vừa kịp nhả bớt nước và săn lại. Nhộng xào chắc thịt, lớp da dai dai, mùi lá chanh thơm phức cùng với vị ngậy của tóp mỡ khiến bát cơm cứ vơi lại đầy. Lần nào tôi cũng cố ăn thật nhanh trước khi nồi cơm bị các cô chú vét sạch.

Bây giờ về quê, thỉnh thoảng vẫn thấy tiếc một ngành nghề khi bắt gặp những chiếc nong, những phiên liếp ngày xưa để quên trong góc bếp...