Từ bức tường đá đen ở Oa-sinh-tơn...

Vào đầu những năm 1980, chính những cựu binh Mỹ đầu tiên đã làm một việc phi thường, khi dám vượt qua hố sâu ngăn cách giữa hai bên bởi một cuộc chiến vừa qua chưa lâu, vượt qua chính hội chứng chiến tranh vẫn đang cực kỳ sâu sắc ở nước Mỹ, để dò đường cho tiến trình bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Từ sau những gạch nối đầu tiên đó, họ đã trở lại đóng góp cho quan hệ hai nước, sửa chữa những hậu quả chiến tranh ngay ở mảnh đất họ từng muốn quên đi.

Cựu binh Mỹ Bobby Muller trong lần gặp gỡ Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Cựu binh Mỹ Bobby Muller trong lần gặp gỡ Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Những người tiên phong

Năm 1981, Bốp-by Miu-lơ (Bobby Muller) cùng với Giôn Te-rơ-gia-nô (John Terzano), hai cựu binh Mỹ sáng lập ra tổ chức phi chính phủ Quỹ Cựu chiến binh Mỹ ở Việt Nam (VVAF) tổ chức một đoàn cựu binh Mỹ đầu tiên trở lại Việt Nam sau chiến tranh, theo lời mời của Bộ Ngoại giao Việt Nam. Khi đó, quan hệ Việt - Mỹ còn cực kỳ khó khăn và đầy nghi kỵ. Nhưng Miu-lơ và Te-rơ-gia-nô đã trở thành những người tích cực vận động để bình thường hóa quan hệ hai nước.

Miu-lơ, Giám đốc VVAF, phải ngồi xe lăn. Nhưng cùng với những vòng xe lăn đó, ông đã vượt chặng đường dài từ Oa-sinh-tơn (Washington) tới Hà Nội, một hành trình không chỉ dài về khoảng cách địa lý. Trong một trận chiến ác liệt ở Quảng Trị năm 1969, Miu-lơ (khi đó mới là một lính thủy đánh bộ ngoài 20 tuổi) đã bị một viên đạn xuyên thẳng vào cột sống. Vết thương tưởng đánh gục Miu-lơ, nhưng sau một thời gian dài điều trị ở Mỹ, ông vẫn sống, dù phải ngồi xe lăn đến hết đời. Không đầu hàng, Miu-lơ tham gia phong trào phản chiến và thành lập các tổ chức đấu tranh vì quyền của cựu binh Mỹ, của người khuyết tật, trong đó có VVAF.

Trong chuyến đi tới Việt Nam năm 1981, VVAF đã gặp Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, Đại tướng Lê Đức Anh, những người có tầm nhìn xa để dám cùng nhau vượt qua hậu quả cuộc chiến. Chuyến đi rất có ý nghĩa, bởi VVAF là tổ chức duy nhất của cựu binh Mỹ lúc đó được Quốc hội Mỹ phê chuẩn. Trở về Mỹ, Miu-lơ và VVAF tích cực vận động các quan chức quốc hội, Chính phủ Mỹ, vận động chính các cựu binh và người dân Mỹ để đi tới nối lại quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Lúc đó, trụ sở của VVAF tại Oa-sinh-tơn được xem như một "đại sứ quán" Việt Nam thu nhỏ, bởi hai bên vẫn chưa có cơ quan đại diện của nhau, và việc đi lại của các nhà ngoại giao Việt Nam tại phái đoàn LHQ ở Niu Oóc (New York) cực kỳ bị hạn chế. Và hơn 10 năm sau, ngày 3-2-1994, khi Tổng thống Mỹ B.Clin-tơn (Bill Clinton) tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, có B.Miu-lơ ngồi xe lăn bên cạnh, cùng các cựu binh Mỹ khác - một biểu tượng rõ rệt cho sự đóng góp của cựu binh Mỹ vào tiến trình hòa giải giữa hai nước.

Hồi chuông thức tỉnh

Cho đến giờ, B.Miu-lơ vẫn cực kỳ gắn bó với Việt Nam. Tình yêu với Việt Nam thì có lẽ là không thể đo đếm nổi. Có lần tôi hỏi ông: Hai tiếng "Việt Nam" với ông có ý nghĩa thế nào, Miu-lơ trầm ngâm một lúc, rồi nói dứt khoát: "Việt Nam, với tôi, là hồi chuông thức tỉnh". Tổ chức VVAF của ông thành lập văn phòng ở Việt Nam năm 1994, tham gia cùng với Bộ Quốc phòng Việt Nam điều tra tình trạng ô nhiễm bom mìn, lập bản đồ bom mìn vật nổ ở Việt Nam sau chiến tranh, tài trợ, huấn luyện rà phá bom mìn, trả lại đất sạch cho người dân các tỉnh miền trung. VVAF cũng có những chương trình rất hiệu quả giúp đỡ người khuyết tật, bất kể vì nguyên nhân gì, giúp đỡ các nạn nhân chất độc da cam/dioxin, tìm kiếm tài trợ xây trường học cho trẻ em các vùng miền núi, nông thôn khó khăn.

Tháng tư này, trong dịp kỷ niệm 40 năm kết thúc chiến tranh, sức khỏe không cho phép B.Miu-lơ sang thăm Việt Nam, mà chỉ có người phó của ông, cựu binh G.Te-rơ-gianô, người cũng rất tích cực trong các hoạt động của VVAF. Trong một lần trở lại Việt Nam năm 2006, Miu-lơ cùng các cựu binh Mỹ đã tới thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại nhà riêng ở Hà Nội. "Võ Nguyên Giáp là một huyền thoại sống" -Miu-lơ sau này nói về chỉ huy của những người một thời bên kia chiến tuyến. Ông khâm phục tướng Giáp không chỉ với tư cách một nhà chỉ huy quân sự, mà còn ở nhân cách, ở tinh thần, ý chí của một con người: "Đại tướng đã tìm ra lý do để tin tưởng trong cuộc sống và tôi cho rằng lý do đó là "phụng sự", từ khi ông là người thầy cho tới khi ông là lãnh đạo, đều là để làm cho cuộc sống của người khác tốt hơn. "Phụng sự" là một trong những bài học về cuộc đời quan trọng nhất và cơ bản nhất. Điều đó được thể hiện rất rõ trong cuộc đời của Đại tướng, nhằm đem lại điều quý giá nhất cho dân tộc Việt Nam, đó là độc lập, tự do và công bằng".

Hòa giải

Khái niệm "phụng sự", "làm cho cuộc sống của người khác tốt đẹp hơn" mà Miu-lơ nhắc tới đấy cũng là lẽ sống của chính ông, hay của nhiều cựu binh Mỹ khác đã can đảm hàn gắn vết thương chiến tranh trong chính tâm hồn họ, và ở đất nước đã hứng chịu nhiều bom đạn hơn bất kỳ nơi nào trên trái đất này. Với sự mở đường của VVAF, các cựu binh Mỹ thuộc nhiều tổ chức khác hoặc tự họ là những cá nhân, sang Việt Nam làm việc, rà phá bom mìn, dạy học cho trẻ em, chữa bệnh cho các nạn nhân da cam, thực hiện các dự án cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, trao lại các kỷ vật chiến tranh của đối phương... Nhiều nghệ sĩ cựu binh sang Việt Nam giao lưu với các nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ Việt Nam, và tác phẩm của họ nói về sự hòa giải của đất nước hay của cá nhân họ. Nhiều cựu binh Mỹ chọn Việt Nam, hay chính những vùng đất như Quảng Trị, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh làm nơi sinh sống. Đại sứ đầu tiên mà Chính phủ Mỹ cử tới Hà Nội năm 1997, ông P.Pi-tơ-xơn (Peter Peterson), cũng từng là một cựu binh Mỹ. Trong nhiệm kỳ của ông, quan hệ Việt - Mỹ đã có những bước tiến dài.

B.Miu-lơ kể lại, vào giữa những năm 1990, bộ phim tài liệu có tựa đề Sương mù chiến tranh(Fog of war) về cựu Bộ trưởng Quốc phòng R.Mắc Na-ma-ra (Robert McNamara) đã ra đời tại Mỹ. Mắc Na-ma-ra nhìn thẳng vào ống kính, nói rằng lý do chính cho thảm kịch của người Mỹ trong cuộc chiến ở Việt Nam là vì Mỹ không hiểu được người Việt Nam là ai, lịch sử, văn hóa, kinh nghiệm của họ trong cả nghìn năm chống xâm lược thế nào. Trong cuộc gặp với B.Miu-lơ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói cũng chính những ý đó: "Ông có biết là người Mỹ các ông chưa bao giờ hiểu người Việt Nam chúng tôi là một dân tộc thế nào, lịch sử, văn hóa và trải nghiệm của chúng tôi ra sao".

Bài học đó, hàng chục năm sau chiến tranh, nhiều cựu binh Mỹ mới hiểu khi tới thăm Việt Nam. Với nhiều người, tới tận bây giờ, quyết định trở lại Việt Nam vẫn không phải dễ dàng. Nhưng khi đến đây, được đón tiếp, nhiều cựu binh Mỹ cảm thấy được xoa dịu, thoát khỏi bóng đen dữ dội và ám ảnh của cuộc chiến đã dày vò họ nhiều thập kỷ. Tôi đã thấy, trước Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam tại Oa-sinh-tơn D.C., nơi bức tường đá hoa cương đen khắc tên hơn 58.000 lính Mỹ tử trận ở Việt Nam, nhiều cựu binh Mỹ đã lặng lẽ cúi đầu, khóc không thành tiếng. Thì ở đây, nhiều dịp đi cùng các cựu binh Mỹ trở lại chiến trường xưa của họ ở Quảng Trị, Tây Nguyên..., tôi cũng quan sát thấy họ, người đứng một mình với những lời cầu nguyện nào đó, người làm những nghi lễ nho nhỏ nào đó riêng mình họ biết, người trở lại chiến trường cùng chính các cựu binh Việt Nam ở đơn vị bộ đội Bắc Việt năm xưa họ từng giao tranh.Sau những chuyến đi như thế là sự giải thoát trong tâm can, là sự lạc quan, và với không ít người, là gắn bó...

Có thể bạn quan tâm