Đời sống tâm linh đối với người dân tộc bản địa rất quan trọng. Buôn (uôn) tiếng M’Nông có nghĩa sâu là nguồn, nên buôn làng phải gắn với thiên nhiên, sống hài hòa với thiên nhiên. Những buôn Jun, buôn La, buôn Lê ngày xưa đẹp biết bao nhiêu…, giọng ông Long trầm buồn, mắt ông dõi xa xăm như đang sống lại ký ức một thời đại ngàn hùng vĩ ở sát buôn làng.
Duy trì giống nòi cho voi
Đắk Lắk hiện còn 43 con voi nhà, nếu không còn con nào thì đâu cần cơ quan bảo tồn nào nữa. Mấy chục năm qua có bảo tồn nhưng theo ông Long, thì đi chưa đúng hướng. Vì cơ quan chức năng không mạnh dạn, chưa dựa trên những tập tục của đồng bào để làm tốt công tác bảo tồn.
Chế độ bao cấp xóa bỏ, ông Long là người đầu tiên có ý tưởng dùng voi để làm du lịch. Khi đó, ông phải đi tìm lại những con voi của bố mẹ gửi người dân nuôi và cả những con voi tốt bố mẹ đã bán để chuộc lại. Trong nhà ông có lúc đông nhất tới mười mấy con voi. Hiện tại gia đình ông còn bảy con. Đó là các voi có tên H’Luân, H’Túk, H’Bok Khăm, Khăm Sen, Y Măm, Thông Răng, Y Khun. Trong đó H’Bok Khăm, Khăm Sen, H’Túk cùng sinh năm 1984 còn trẻ, còn khả năng sinh sản. Số còn lại đều hơn 50 tuổi. Những con đực còn giao phối được. Con voi cái tới 65 tuổi mới hết đẻ. Với điều kiện là trong thời gian phát triển sinh lý đến 65 tuổi voi đã có đẻ, chứ để đến 50 tuổi mới cho giao phối thì rất khó.
“Để voi đến với nhau đâu phải dễ, ngay như nhà tôi nuôi, có đực, có cái nhưng ngay từ khi mới đưa về làm lễ cúng, đặt tên thì chúng đã biết chúng là anh chị em trong một gia đình, không bao giờ chúng cho giao phối. Như con Khăm Sen và con H’Bok Khăm, hai con này mà vắng nhau một chút là chúng rống, gọi tìm cho bằng được, nhưng khi con Khăm Sen nhảy, con H’Bok Khăm nó cứ quỳ xuống, không cho giao phối. Nó lại thích con đực buôn bên cạnh, nhưng ông chủ voi đực bên đó không cho giao phối. Ổng bảo cho nó nhảy rồi xảy ra chuyện gì thì ai lo, ai đền. Lỡ con voi đực của tôi thích theo con voi cái nhà mày mà nó hung dữ lên thì buộc phải quản lý bằng cách này, cách kia thì ai xử lý?”, ông Long giải thích.
Rõ ràng là biết voi thích nhau đấy nhưng để chúng “gần gũi” cũng không làm được, phải có cơ quan quản lý, có luật tục, có hương ước, có giao kèo thì may ra. Nhiều năm bảo tồn nhưng không có con voi con nào ra đời là vậy… Việc voi giao phối có bầu là cực khó, cực hiếm, nhưng đến lúc có bầu chửa đẻ cũng không dễ giữ được. Đã có ba con voi đẻ ra ba con con to đẹp, nhưng đẻ ra là chết mất rồi! Ông Long kể: Lần đầu tiên tôi ghép con đực Y Mâm phối với con cái Bok Nang có bầu, tiếp tới là con Bok On; tới con Thông Răng nhảy con Khăm Sen của Y Thanh Uông, đẻ ra đều chết! Mình theo dõi, chăm sóc nó từng ngày đến khi phải bàn giao cho bên bảo tồn đưa về buôn Chua (Khu bảo tồn ở huyện Lắk). Đêm nó đẻ, người dân gọi báo hai con voi rống nhiều lắm, chắc nó đau đẻ, mày cho người đến đi. Mình nói: Có bảo tồn người ta trực ở đó rồi. Đến sáng gọi hỏi thì họ báo đẻ ra chết rồi!!! Giờ nói thẳng: Việc chăm sóc voi từ khi thụ thai đến khi sinh nở, phải hiểu hết bản năng, giới tính, tâm, sinh lý con voi. Khi nó gần đẻ, phải làm cho nó cái chòi nhỏ, đốt lửa giữ ấm. phải theo dõi từng phút. Voi đẻ ra, phải ôm voi con, tách ngay ra khỏi mẹ. Chỉ trong mấy phút đó phải móc nước miếng, nước đờm, lau chùi, sưởi ấm cho voi chứ nó không tự làm được. Nhưng ai làm được những việc như vậy? Ông Long kể mà mắt ầng ậc nước…
![]() |
| Anh Y Piếp và voi Ngà Chéo. |
Bài toán bảo tồn và sinh kế
Ông trăn trở: Bây giờ, Nhà nước có cơ chế người dân được nuôi, có tổ chức, có kiểm soát... Tóm lại, phải có cơ chế mở, phải đầu tư, có luật, có bảo đảm sinh kế, có khuyến khích đãi ngộ hợp lý và cột buộc trách nhiệm… Mới đây, việc không dùng voi chở khách được người dân ủng hộ, nhưng rất mong Nhà nước có cơ chế chuyển đổi phù hợp. Theo đó thì, con voi có sinh, có tử, không giống cồng chiêng hoặc nhà dài hay thuyền độc mộc. Có sinh có tử là có còn có mất, nên công tác bảo tồn voi không chỉ dừng ở bảo tồn mà phải kèm phát triển.
Thực tế cho thấy, hiện chưa có được một sinh cảnh chung cho voi. Thí dụ như huyện Lắk còn 17 con voi nhưng chưa có khu rừng nào để tập trung voi. Nhà ông Long có bảy con voi thì mỗi con xích một nơi. Ông ví von: Voi nhà ông A muốn giao phối với voi nhà ông B thì phải có cái rừng. Rừng đó phải tách ra khỏi lợi ích của người dân, chứ đụng vào lợi ích của người dân là khó. Đồng bào rất thích voi đẻ nhưng không có gì bảo đảm, cũng như không có bảo hiểm, người ta rất ngại.
Câu hỏi: Tại sao voi Tây Nguyên không đẻ được? Đòi hỏi hướng đi, cách làm đúng. Ông Long đề xuất, muốn thay đổi, đầu tiên phải có rừng, sinh cảnh là cái cần nhất. Voi nhà cột đâu dám thả xích dài, bởi giữa rừng đều có ruộng, có rẫy. Chưa nói cho đi xa, trộm nó chặt đuôi, nó bắn voi thì làm sao? Ngày xưa có cánh đồng dưới Đắk Liêng để thả voi. Chiều chiều là người ta thả voi ra đó. Khi đó voi đẻ nhiều lắm!
Thực tế, nghề dệt thổ cẩm, hay đẽo tượng đều có người đứng ra tổ chức, có mô hình thuê nghệ nhân về giảng dạy để phục dựng văn hóa. Với voi, cũng phải có chương trình đào tạo thì du lịch mới trở nên phong phú. Nhưng muốn cho voi làm du lịch nhẹ hơn, thì phải có phương án phù hợp. Theo ông Long thì các nghệ nhân, những người rất yêu voi, cá nhân muốn làm, nhưng cần có chủ trương, có người “cầm chịch”, có kinh phí, có trình độ quản lý. Chỉ riêng việc di chuyển con voi từ tỉnh này sang tỉnh khác biểu diễn chứ chưa nói là tới mùa động dục phải tập trung chúng về một khu rừng nào đó để chúng giao lưu, làm quen, kết đôi rồi giao phối… đã phải làm biết bao thủ tục, giấy phép, bao nhiêu cơ quan ký, đóng dấu mới có thể đi được. Lại còn chuyện sơ sẩy, tai nạn trong quá trình vận hành, không có bảo hiểm ai chịu, ai dám làm?
Thời gian qua, một tin rất vui đã đến: Cuối năm 2022, cùng với việc UBND tỉnh Đắk Lắk phê duyệt dự án hướng tới thay thế hoàn toàn hình thức du lịch cưỡi voi, tỉnh sẽ hỗ trợ chủ, nài voi và các trung tâm chăm sóc voi nhằm bảo đảm voi được bảo tồn, chăm sóc, kéo dài tuổi thọ từ nguồn kinh phí hơn 55 tỷ đồng do AAF (Tổ chức động vật châu Á) tài trợ. Thời gian thực hiện đến tháng 12/2026, tại huyện Buôn Đôn (Vườn quốc gia Yok Đôn, Trung tâm bảo tồn voi, cứu hộ động vật; các công ty du lịch trên địa bàn) và huyện Lắk.
