Kỳ 1. Cơ duyên của “vua voi”
Bố của ông Đàng Năng Long là ông Đàng Năng Nhảy, có ba người vợ. Bà vợ đầu ở Ninh Thuận. Ông Long là con trai đầu bà vợ thứ hai. Bà vợ thứ ba người Lào, rất đẹp, là cháu của “vua săn voi” Khunjunob (Y Thu Knul). Bà từng là người buôn voi nổi tiếng khắp Đông Dương nên trong nhà có lúc có đến mấy chục con voi. Người “dẫn mối, se duyên” cho ông với voi không phải mẹ đẻ mà chính là người mẹ thứ ba này.
Mê voi từ nhỏ
Mẹ kế thứ ba, hai đời chồng nhưng không có con nên ông Long thường được bà thương yêu và kể chuyện voi cho ông nghe. Người M’Nông ngày xưa bẫy voi theo kiểu của Ấn Độ. Họ đào hố bẫy ở những hẻm núi mà đàn voi hay đi qua, để bắt voi có thể thuần dưỡng từ hơn 3 tuổi đến dưới 7 tuổi. Kích thước bẫy được tính toán voi lớn lỡ sụp xuống cũng tự lên được, còn voi nhỏ sẽ nằm lại. Sau khi voi con rơi xuống hố, người ta sẽ bỏ đói vài ngày, những ngày sau họ sẽ đến để voi quen dần với sự xuất hiện của con người, đó không phải là mối đe dọa mà ngược lại là những bữa ăn ngon. Họ sẽ thuần dưỡng từ từ ngay tại chỗ cho đến khi đã đặt tay được vào vòi, rồi ngồi được lên đầu voi, thì họ mới đưa về nhà thuần dưỡng tiếp.
Với cách bắt và thuần dưỡng voi theo kiểu này, đã từng có một người bị voi quật chết, giẫm nát chỉ còn lại cái chân bên trái nguyên vẹn. Từ chuyện này, người ta xem đó là thần linh dạy muốn bắt voi phải giữ được cái chân trái của nó, nên sau này khi ông “vua săn voi” Khunjunob sáng tạo ra cách bắt voi bằng cách ngồi trên lưng voi nhà rồi đưa thòng lọng vào chân voi, với một giao ước: Chỉ bắt và đưa về thuần dưỡng với những con voi mà thợ săn đưa được thòng lọng vào chân sau bên trái; nếu thòng lọng vào chân trước phải thả voi về rừng; còn vào chân sau bên phải, ai muốn giữ lại nuôi thì phải cúng một con trâu lớn để tạ lỗi.
Ngày xưa voi rất nhiều và người dân bắt được cũng nhiều, nên bố mẹ ông Long mua voi từ Campuchia, Lào, từ những người đi săn về nuôi và bán lại. Trong nhà có khi có 30 đến 40 con voi lớn có, nhỏ có. Voi được bán khắp nơi: bán cho người Cơ Tu, người Tà Ôi ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum; cả người Stiêng ở sông La Ngà (Đồng Nai), Bù Đăng, Bù Đốp (Bình Phước)… Sau này, đồng bào có công cụ sản xuất cơ giới thay thế, voi mất dần và nghề buôn voi đi vào quên lãng.
Ông Long mê voi từ nhỏ. Mẹ ông cấm cản, không cho ông đi theo xem voi, sợ nguy hiểm. Ông Long vẫn trốn mẹ đi xem, không chỉ voi của nhà mà voi của người dân kéo gỗ, kéo cây... Chính vì vậy mà với các công đoạn kỹ thuật voi kéo gỗ, kéo cây, kéo tranh do nhìn thấy từ nhỏ nên khi lớn lên ông nắm bắt được hết. Khó nhất là voi kéo tranh về lợp nhà. Tranh được người dân cắt bó từng lọn, cột túm bên trên. Xong, họ xếp đứng khoảng 300 bó tranh, dài thành khối khoảng 20m, bề ngang 5m. Họ kẹp lồ ô liên kết lại như con thuyền rồi nẹp tre, nối vào con voi kéo đi. Tranh thường được kéo từ buôn Ya (buôn Tranh), tiếng M’Nông “ya” có nghĩa là tranh, ở đây rất nhiều cỏ tranh. Các vùng Yang Tao, Yang Bắc, buôn Rung, buôn Chua đều phải mua tranh từ buôn Ya, sau đó thuê voi kéo về…
Vào mùa khô, ông Long còn được theo các đội săn nhỏ lẻ chưa có nhiều kinh nghiệm đi săn ban ngày. Khi các vùng rừng lân cận bị cháy chỉ còn lại những vùng rừng không cháy, nơi ấy thường tập trung rất nhiều con thú. Thợ săn cho voi xông vô rừng, các con thú chạy ra, họ ngồi trên lưng voi dùng lao phóng đem về chia cho dân làng. Ai đến xem cũng đều được chia phần chứ không buôn bán gì hết.
![]() |
| Tình cảm của vua voi Đàng Năng Long và voi Khăm Sen hết sức thắm thiết. |
Nhật ký về voi
Chuyện vui: Nhớ lần đi chuộc con Y Trút là con voi đực to lớn nhất và khôn nhất. Mẹ thứ ba của ông Long từng bán nó cho một người ở buôn Yang Kang (Krông Bông). Họ đòi 100 triệu đồng, nhưng đến khi giao tiền thì cụ bà chủ nhà lại không đồng ý bán. Bà nói 100 triệu đồng nhưng phải tìm đúng chủ ngày xưa bán voi cho bà. Vì người bán ngày xưa nói: Khi nào mày không nuôi nữa thì mày phải bán lại cho tao. Bây giờ tôi già rồi, không nuôi nổi nữa thì tôi phải tìm đúng người chủ đó để trả lại.
“Con chính là con bà người Lào bán voi cho bà”, ông Long nói bằng tiếng Ê Đê: Bà cụ nói: “Mày lấy gì để chứng minh mày chính là con bà người Lào đó? Mày phải nói mặt mẹ mày như thế nào? Bố mày như thế nào?”. Ông Long tả lại thì bà cụ mới công nhận ông nói đúng. Ngày hôm sau cả gia đình con trai, con gái của bà cụ tập trung về làm lễ cúng xong mới cho ông Long dắt voi về. Cháu ngoại của bà cụ là nài voi cũng được bà cho đi theo để chăm sóc voi giúp ông Long. “Khi nào con voi nó thuần và người ta không muốn mày ở đó thì mày mới về”, cụ bà dặn.
Voi Y Trút về được một thời gian, ông Long thấy nó và voi cái H’Kun có tình cảm và rất quấn nhau nên ông ghép đôi để chúng giao phối. Đang đêm ngủ, thấy bà ở gần chỗ xích voi chạy đến báo: “Con voi đực Y Trút giật đứt xích qua nhà tao ăn đồ”. Nghe báo, ông Long và người cháu tên Y Phôn vội chạy lên chỗ cột voi. Y Phôn chạy trước, đến nơi thấy voi cái nằm im không cử động thì gọi nói: “Ô cậu ơi, voi cái chết rồi!”. Nghe vậy, ông Long bàng hoàng. Ông nghĩ: Chắc voi đực không thích nên húc chết voi cái rồi!!! Nhưng khi đến gần, ông Long dùng móc chích vào người thì nó vùng đứng dậy. Hóa ra, chúng đã giao phối quá nhiều, “cô nàng” mất sức nên nằm ngủ, còn “chàng” đói nên phá xích đi kiếm cái ăn. Đang đứng tim vì sợ con voi cái chết sẽ mất một khoản vốn lớn, đến khi voi chồm đứng dậy, hai cậu cháu chỉ biết ôm nhau cười.
Cả hai con voi đó giờ đều đã chết. H’Kun thời gian sau bị bọn trộm chặt đuôi lấy lông, ba năm sau thì chết. Voi đực Y Trút là con voi lớn nhất, khôn nhất Tây Nguyên thì chết già.
Một kỷ niệm đẹp nữa là lần đi dắt voi về, mẹ ông Long cho người làng bên Nam Ka mượn. Khi đi, thì sông cạn lội qua, khi dắt voi về đến giữa rừng, thấy người ta đốt một đống lửa lớn. Có người chạy đến nói: “Ma Mi hả Ma Mi? (tên má đầu của ông Long). Hồi chiều mình thấy Ma Mi đi qua sông lấy voi, nhưng mình thấy trên nguồn mưa lớn, nước lũ đổ xuống đem theo nhiều cây lớn. Mình sợ Ma Mi dẫn voi về đi qua đường cũ, người và voi sẽ bị nước lũ và cây đẩy xuống vực chết mất. Mình thấy Ma Mi đi qua, thế nào đêm nay Ma Mi cũng về nên mình bơi qua sông đốt lửa để báo cho Ma Mi biết”. Mọi người hiểu ra sự tình, những người dân tốt bụng giữa đêm mưa lạnh, che áo mưa đốt lửa để cứu voi, cứu mọi người…
“Người đồng bào người ta thật lắm, bản chất người đồng bào là vậy đó. Họ mang ơn ai cái gì là không so đo tính toán, kể cả nguy hiểm họ cũng đội mưa lao đến cứu mình. Bố mẹ mình sống tốt với người ta, người ta cũng tốt với mình vậy đó”, ông Long nói.
(Còn nữa)
