Thu hút vốn vào ngành điện

Với 77.000 MW công suất lắp đặt nguồn điện, Việt Nam đã vươn lên đứng đầu trong khu vực ASEAN; trong đó có thể thấy tỷ trọng ngày càng lớn của năng lượng tái tạo với khoảng hơn 20.000 MW, hệ thống truyền tải điện phát triển nhanh và mạnh. Theo tính toán của Bộ Công thương trong quy hoạch điện VIII, nhu cầu điện đến năm 2030 còn tăng cao. 

Các dự án EVN gặp nhiều vướng mắc liên quan giới hạn tín dụng. Ảnh: HẢI NAM
Các dự án EVN gặp nhiều vướng mắc liên quan giới hạn tín dụng. Ảnh: HẢI NAM

Điểm nghẽn trong thu hút vốn

Là doanh nghiệp nhà nước với vai trò chính bảo đảm điện quốc gia, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)  cho biết, trong giai đoạn 2021-2025, EVN sẽ khởi công 10 dự án nguồn điện với tổng công suất 8.240 MW; trong đó hoàn thành đưa vào vận hành bốn dự án nguồn điện với tổng công suất 3.090 MW. Đối với các công trình lưới điện, sẽ hoàn thành đưa vào vận hành 338 công trình (gồm 82 công trình 500 kV và 256 công trình 220 kV) với tổng chiều dài khoảng 17.000 km và tổng dung lượng trạm biến áp khoảng 86.000 MVA. Tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn tập đoàn giai đoạn 2021-2025 khoảng 600.000 tỷ đồng, tăng 11% so với thực hiện trong giai đoạn 2016-2020.

Với nguồn lực có hạn, đây sẽ là khó khăn lớn với EVN. Ông Nguyễn Tài Anh, Phó Tổng Giám đốc EVN cho biết, hiện thủ tục phê duyệt phương án huy động vốn với các dự án nguồn điện của EVN có giá trị vốn vay lớn nên phải trình cơ quan đại diện chủ sở hữu (Ủy ban Quản lý vốn nhà nước) phê duyệt phương án huy động vốn... Ngoài ra, vướng mắc liên quan đến phê duyệt hợp đồng thế chấp tài sản (đối với các hợp đồng mà giá trị dự kiến của tài sản thế chấp vượt quá mức dự án nhóm B theo Luật Đầu tư công, các dự án liên quan đến công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia) làm kéo dài thời gian thu xếp vốn cho các dự án.

Ngược lại, đối với vay vốn ODA/ưu đãi nước ngoài, theo quy định tại Nghị định 97/2018/NĐ-CP của Chính phủ về cho vay lại vốn vay ODA/ưu đãi nước ngoài, các dự án phải áp dụng cơ chế cho vay lại chịu rủi ro tín dụng. Do đó, các ngân hàng, tổ chức tín dụng thực hiện cho vay lại chịu rủi ro, dẫn tới EVN sẽ gặp vướng mắc liên quan giới hạn tín dụng.

Đối với vay vốn có bảo lãnh Chính phủ, Luật Quản lý nợ công năm 2017 quy định đối tượng được cấp bảo lãnh Chính phủ là dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, quyết định đầu tư của Thủ tướng Chính phủ theo quy định của Luật Đầu tư và Luật Đầu tư công. Do vậy, để được cấp bảo lãnh Chính phủ, các dự án của EVN phải trình Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư hoặc trình Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư.

EVN cho hay, đối với vay vốn nước ngoài không có bảo lãnh Chính phủ, tổng mức đầu tư của hầu hết các dự án nguồn điện của EVN đều vượt mức dự án nhóm B nên EVN gặp rất nhiều khó khăn khi thu xếp vốn vay nước ngoài theo phương thức tự vay tự trả cho các dự án này.

Là một trong những nhà đầu tư tư nhân hàng đầu về đầu tư năng lượng tái tạo, ông Lê Như Phước An, Phó Tổng Giám đốc Trung Nam Group cho biết, doanh nghiệp cũng gặp những khó khăn nhất định khi huy động vốn. Theo ông Lê Như Phước An, nguồn vốn trong nước chi phí cao, quy mô thắt chặt, giới hạn. Do đó, phải tìm đến nguồn vốn nước ngoài. Ngược lại, để nhà đầu tư chấp nhận “rót” vốn thì thị trường phải đủ hấp dẫn, ít rủi ro, sinh lời cao.

Thực trạng, thị trường điện Việt Nam đã đủ hấp dẫn, những yếu tố về tính “ít rủi ro và sinh lời cao” đang khiến nhiều nhà đầu tư phải cân nhắc trước khi đầu tư. “Nhà đầu tư nước ngoài kỳ vọng chính sách rõ ràng và có thể dự báo được, thì họ mới quản lý được dòng vốn của mình khi đầu tư vào”, ông An cho biết.

Đại diện Trung Nam Group cũng cho rằng, chúng ta phải tháo gỡ được những điểm nghẽn còn tồn tại. Thời gian vừa qua chính sách về phát triển điện lực chưa được ổn định, bao gồm: Quy định giữa các luật, quy hoạch, chính sách giá. Tiếp đến là cơ chế giá. Theo dự thảo mới nhất thì có những điểm bất lợi cho nhà đầu tư. Chẳng hạn, giá điện tính bằng VND, trong khi nguồn vốn tính bằng USD. Điều này tạo điểm vênh, khó cân đối. Chưa kể, theo quy định mới, thời hạn của các hợp đồng mua bán điện và giá điện áp dụng từ nay đến hết năm 2025. Sau năm 2025, các đơn vị tiếp tục tham gia đấu thầu theo quy định mới. Như vậy, nhà đầu tư nhận định rủi ro bị đẩy về phía họ. Đó là yếu tố khó thu hút các nguồn vốn.

Điểm nghẽn ở hợp đồng mua bán điện (PPA) cũng là bất lợi trong thu hút vốn được đại diện Trung Nam Group nhắc đến. Theo ông An, hiện EVN hoàn toàn có quyền tạm dừng hoặc dừng phát điện của nhà máy trong một thời điểm-thời gian bất kỳ. Đây là e ngại lớn nhất của giới đầu tư. “Theo quan điểm của giới tài chính quốc tế, thì PPA Việt Nam nên được tham chiếu bằng góc nhìn so sánh và vận dụng của các thị trường tương tự để đạt được các điều kiện về biện pháp quản lý và phân bổ rủi ro cho cả bên bán và bên mua”, ông An nói và nhấn mạnh: Rủi ro cao thì lãi suất vay cao (chi phí vốn cao), sẽ tạo hiệu quả đầu tư thấp, hoặc khi đàm phán giá điện bị tăng lên.

Một điểm nữa liên quan đến cơ cấu nợ. Ngân hàng Nhà nước quy định không được vay vốn nước ngoài trả nợ trong nước. Như vậy, sẽ bỏ lỡ cơ hội đầu tư khi ban đầu dự án phải vay vốn trong nước lãi cao, nhưng lại không thể huy động vốn từ nước ngoài giá rẻ hơn. Còn về thu hút vốn vào đầu tư lưới điện cũng sẽ rất khó bởi nhà đầu tư chưa thấy được hiệu quả khi đến nay vẫn chưa có cơ chế giá, hay mức thu phí truyền tải là bao nhiêu.

Tương tự, Công ty CP Tập đoàn năng lượng T&T là một trong những tập đoàn tư nhân hàng đầu Việt Nam hướng “mũi nhọn” vào ngành năng lượng, đặc biệt là năng lượng xanh, cũng cho rằng có rất nhiều điểm nghẽn đang cản trở các nhà đầu tư mạnh dạn “bơm tiền” vào lĩnh vực tiềm năng này. Ông Nguyễn Thái Hà, Giám đốc công ty cho rằng: Cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo của chúng ta chưa được thông suốt, liên tục và đang bị đứt gãy, gián đoạn như: Điện mặt trời đã bị chững lại từ sau 1/1/2021 và gần đây là điện gió sau 1/11/2021. Chúng ta cần có một hành lang pháp lý thông suốt, thông thoáng, rõ ràng và liên tục đối với cả điện khí LNG lẫn điện gió ngoài khơi. Các cơ chế chính sách áp dụng trong thời gian vừa qua chưa đưa ra được định hướng lâu dài. 

Giá điện là vấn đề tiên quyết?

Để tạo cơ sở thu hút đầu tư vào ngành điện, EVN kiến nghị Chính phủ sớm phê duyệt Quy hoạch điện VIII để EVN và các đơn vị có cơ sở triển khai thực hiện; trong đó giao EVN làm chủ đầu tư các dự án nguồn và lưới điện trong Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia theo đề nghị của tập đoàn này. Đặc biệt, để huy động vốn, đối với cơ chế, chính sách cho các khoản vay trong nước, EVN kiến nghị sửa đổi quy định về tỷ lệ giới hạn tín dụng quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng căn cứ theo đặc điểm, tính chất, quy mô của từng hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh cần huy động vốn.

Đối với ngành năng lượng, do nhu cầu vốn đầu tư lớn, để bảo đảm thu xếp đủ vốn cho các dự án đầu tư, đề nghị nâng tỷ lệ giới hạn tín dụng. Theo quy định hiện tại, tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 30% vốn tự có của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô; tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng và người có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô. 

Còn đối với cơ chế, chính sách cho các khoản vay nước ngoài, đại diện EVN đề xuất sửa đổi Nghị định 97/2018/NĐ-CP cho phép EVN được vay lại vốn ODA theo cơ chế cho vay lại không chịu rủi ro tín dụng. EVN cũng cho rằng, năm 2022 là năm thứ ba liên tiếp giá bán lẻ điện bình quân chưa được tăng mặc dù giá nhiên liệu đầu vào cho phát điện như than, dầu khí tăng rất cao, ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và việc thu hút đầu tư nguồn điện; đề nghị Chính phủ xem xét phê duyệt lộ trình tăng giá điện giai đoạn 2023-2025.

PGS, TS Bùi Xuân Hồi, chuyên gia kinh tế năng lượng, Hiệu trưởng Trường cao đẳng Điện lực miền Bắc cho rằng, cái chính yếu nhất để thu hút đầu tư không còn cách nào khác là phải có cơ chế điều chỉnh giá điện. Lý do được PGS, TS Bùi Xuân Hồi nhấn mạnh là: Đối với các nhà đầu tư tư nhân hay Nhà nước, thì chắc chắn rằng, để thu hút đầu tư, phải tính đến khía cạnh lợi ích. “Không có chuyện vốn Nhà nước bỏ ra mà không tính lợi ích. Còn với nhà đầu tư tư nhân thì cái họ quan tâm là lợi nhuận bao nhiêu. Doanh thu được tính bằng “sản lượng điện được bán nhân với giá bán”. Giá bán lại là giá áp dụng cho hộ tiêu dùng cuối cùng. Bởi vậy, tôi nghĩ rằng, vai trò của giá điện là trọng tâm nhất trong việc thu hút vốn đầu tư. Còn khó khăn, vướng mắc ở nhà máy này, nhà máy kia chỉ là vấn đề kỹ thuật”, PGS, TS Bùi Xuân Hồi nói và cho rằng, Chính phủ và Bộ Công thương cần tính toán cơ chế điều chỉnh giá kịp thời và phù hợp.

Dẫn chứng về cơ cấu biểu giá bán lẻ điện theo Quyết định 28 từ năm 2014 chưa điều chỉnh; tương tự là quy định về giờ cao - thấp điểm duy trì từ năm 2011; cùng với việc giá bán lẻ điện bình quân ba năm duy trì cùng một mức kể từ năm 2019, PGS, TS Bùi Xuân Hồi khẳng định, không còn hiệu quả thu hút đầu tư vào ngành điện trong thời điểm giá đầu vào luôn biến động tăng, nhưng lại giữ nguyên giá “đầu ra” nhiều năm. Sẽ rất khó để bảo đảm an ninh năng lượng điện.

Với tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm giai đoạn 2021-2025 ở ngưỡng hơn 9%, giai đoạn 2026-2030 hơn 8%, tổng vốn đầu tư cho phát triển điện lực giai đoạn 2021-2030 của Việt Nam theo tính toán là 141,59 tỷ USD, trong đó phần nguồn điện 127,45 tỷ USD và phần lưới khoảng 14,14 tỷ USD. Tương đương vốn bình quân đầu tư cho giai đoạn này khoảng 14,16 tỷ USD/năm (trong đó phần nguồn khoảng 12,72 tỷ USD/năm và phần lưới khoảng 1,41 tỷ USD/năm). “Đây là con số lớn, nhiều khó khăn để huy động đầu tư do chủ trương hạn chế cấp bảo lãnh Chính phủ cho các dự án hạ tầng năng lượng”, ông Hoàng Trọng Hiếu, Phó Chánh văn phòng Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển điện lực nhấn mạnh.