Sương...

Càng về chiều càng lạnh, sương bắt đầu buông nhiều hơn. Tôi vào bếp chất ít củi quanh chiếc kiềng, nhóm lửa để sưởi. Lấy cái ấm nhôm đen nhẻm, đổ đầy nước và đặt lên ngọn lửa, mà không biết đun để làm gì. Có lẽ là thói quen mỗi khi nhóm mà chưa nấu gì thì cứ đặt ấm nước lên đã, cho đỡ phí lửa.

Nhà tôi đã từ lâu nấu bằng gas trong nhà, nên cái bếp củi ngoài góc sân chỉ là nơi chứa những đồ đạc linh tinh ít dùng. Mấy bữa trước khi còn chưa rét đậm, mẹ tôi nhặt ít củi, cành cây, gốc cây khô để vào đó. Chắc mẹ sợ mưa phùn lại ướt hết, nên tiếc của giời nhặt vào. Như trước thì còn để sẵn chờ nấu bánh chưng Tết, chứ giờ nhà ít người, ăn uống bao nhiêu mà gói. Tết đến mua vài chiếc bánh chưng vừa để thắp hương, vừa ăn, mà có khi đến gần rằm tháng Giêng vẫn còn, nên lâu lắm nhà tôi không gói bánh chưng Tết. Kể cũng mất đi ít nhiều cái không khí ngày Tết thật, nhưng “thời thế”...

Lửa cháy, tiếng nổ lép bép từ bếp, khói lên cay cay mắt, xộc vào mũi khen khét, ngai ngái. Mùi khói bếp đã quá quen thuộc với tuổi thơ chúng tôi, khi buổi sáng thức dậy nhóm lửa rang cơm ăn đi học, hay đánh vật với những bữa nấu cơm khi bố mẹ đi làm, hay lại ngồi canh lửa cho nồi cháo lợn... Chiếc kiềng bếp, tôi không nhớ bố sắm từ bao giờ, nhưng lâu lắm rồi nó nằm yên ở góc bếp. Có lần tôi đề nghị không dùng đến thì cho ai, hay gọi bà đồng nát vào bán. Bố bảo, cứ để đấy, biết đâu có lúc cần đến. Người già cái gì bỏ đi cũng tiếc, nhất là những thứ đã gắn bó với mình từ lâu.

Tôi nhớ khi còn nhỏ, nhiều hôm cũng rét mướt như hôm nay, bữa chiều mẹ xếp cơm ra mâm, đặt lên một chiếc chậu nhôm, để ngay cạnh bếp. Cả nhà ngồi quây quanh mâm cơm, mỗi người một chiếc ghế con bằng gỗ. Khi ấy nồi cơm vần than ở bếp lửa mới được bắc ra chiếc rế. Chiều lạnh, nồi cơm mở ra nghi ngút hơi, lửa vẫn cháy trong bếp. Hôm nào còn sớm, sau khi dọn dẹp, cả nhà tôi lại ngồi quanh bếp lửa. Trên chiếc kiềng là ấm nước, nồi cám lợn, hay có hôm lại là nồi khoai hoặc ngô luộc. Nếu bếp còn đượm than, thế nào chị tôi cũng bới ra vùi vài củ khoai, ấy là những củ khoai dò dò, vùi vào tro nóng rồi lại cho than nóng lên trên, chỉ chừng 10, 15 phút là khoai chín. Rũ lớp tro đi, bóc vỏ thơm phức, miếng khoai ngọt lừ.

Bố đặt ấm trà vừa pha và cái chén lên chiếc ghế đẩu ngồi về một phía bếp, thỉnh thoảng bố hút một điếu thuốc lào, nhả khói quyện vào khói bếp. Những lúc đó bố mẹ tôi nói đủ thứ chuyện, cơ quan, xóm làng, chuyện học hành của anh em tôi... Rồi lại chuyện ngày xưa bố đi bộ cả chục cây số đến trường, nhiều buổi sáng ra ăn mấy quả chuối xanh đi học, về đến nhà thì quá trưa, ăn bát cơm độn ngô, sắn là hay bát cháo sắn, rồi vội vàng ra đồng làm với ông bà. Có khi nhà không có gì ăn còn phải đào cả củ chuối lên để nấu cháo. Mỗi lần kể những chuyện “ngày xưa”, bố lại bảo “so với bố ngày nhỏ, các con bây giờ quá sướng. Nên cố mà học hành cho tốt”.

Ngoài trời sương càng lúc càng dày, mà hình như đã lâm thâm mưa bụi ướt một lớp mỏng trên mặt sân gạch. Lửa trong bếp thỉnh thoảng vẫn lép bép nổ, than cũng đã đượm, tôi rút bớt củi ra, khói vẫn lên. Tôi cố nán lại thêm lúc nữa, phần vì đang ấm nên ngại đứng lên, trời chiều nay rét thật. Hay chính mùi khói bếp, tiếng củi cháy níu tôi lại. Ngồi tĩnh lặng nhìn vào ngọn lửa. Củi lửa giữa chiều nay sương buông lạnh cứ tự nhiên đưa tôi về với những điều tưởng đã quên. Ấm nước sôi từ khi nào không rõ...